Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Thanh Hóa , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 144
Số lượng câu trả lời 96
Điểm GP 3
Điểm SP 95

Người theo dõi (81)

EDOGAWA CONAN
Tsukino Usagi
$Mr.VôDanh$

Đang theo dõi (30)


Câu trả lời:

Đây còn mình câu 1 thôi mình không đủ thời gian để ghi câu 1. Mình giúp câu 2, 3, 4, 5 nha! Có gì sửa mình với nha!ok

 

Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988). Ngày 27 – 6 – 2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới. Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này.

Thanh Hóa là một trong những thành phố có nhiều danh lam thám cảnh đẹp, như: Bãi biển Sầm Sơn, cầu Hàm Rồng, Hòn Trống Mái, khu di tích lịch sử Lam Kinh, ngôi đền của người anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người Thanh Hóa Triệu Thị Trinh, … nhưng không thể quên được một danh lam thám cảnh đẹp nhất của Thanh Hóa và cũng chính công trình này là một công trình được Tổ chức UNESCO công nhận vào ngày 27 – 6 – 2011. Đó chính là Thành nhà Hồ.

Cùng với phố cổ Hội An, khu di tích Chăm Mỹ Sơn và quần thể di tích cố đô Huế, thành nhà Hồ là một trong những di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam, nổi bật với kiến trúc thành lũy bằng đá độc đáo bằng đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á.
Thành nhà Hồ trước đây là kinh đô của nước Đại Ngu, hiệu là Việt Nam thời nhà Hồ nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, gần quốc lộ 45, cách Hà Nội khoảng 150 km. Dù đã được xây dựng hơn 6 thế kỷ nhưng với những phần còn lại của tòa thành, khiến nhiều du khách đến đây không khỏi ngạc nhiên trước tài nghệ xây dựng vật liệu bằng đá khối của người Việt xưa: Tường thành đồ sộ với những phiến đá nặng trên 2 tấn được hoàn thành trong thời gian vẻn vẹn 3 tháng
.

Cổng Đông thành nhà Hồ.

Thành nhà Hồ tọa lạc ở vị trí giáp ranh đồng bằng và miền núi, cảnh quan đẹp, sông núi hài hòa, địa hình đa dạng tạo lợi thế về quân sự. Phía Tây có núi Ngưu Ngọa, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam là sông Mã chảy về và sông Bưởi chảy tới.

Để khám phá tổng thể khu di tích thành nhà Hồ, bạn nên chủ động phương tiện đi lại là xe máy hoặc ôtô đến các điểm tham quan xung quanh thành. Với 20.000 đồng mỗi người cho 2 điểm thu phí, bạn có thể chọn cho mình lộ trình tham quan lịch sử - tâm linh hoặc lịch sử - thắng cảnh khi đến với khu di tích thành nhà Hồ tùy thuộc vào thời gian và sở thích. Bạn cũng nên thuê người thuyết minh với giá 200.000 đồng một tour để có thông tin đầy đủ cũng như làm chuyến đi thêm thú vị với những giai thoại ly kỳ và hấp dẫn.

banner-1376444895_500x0.png

Cổng Nam thành nhà Hồ

Điểm dừng chân đầu tiên không thể bỏ qua khi đến với khu di tích thành nhà Hồ là đàn tế Nam Giao, nằm ở phía Nam, cách trung tâm thành 200 m. Đây được mệnh danh là đàn tế cổ nhất còn tương đối nguyên vẹn kiến trúc nền móng ở khu vực trung tâm trong lịch sử các đàn tế ở Việt Nam.

Rời Đàn Nam Giao xuôi theo quốc lộ 45 khoảng 1 km là ngôi chùa tọa lạc dưới dãy núi Xuân Đài mang tên Du Anh. Bạn sẽ ấn tượng với các lớp đá dày, khá vuông vức chồng xếp lên nhau tầng tầng lớp lớp. Đây cũng chính là một trong các công trường trước kia được nhà Hồ khai thác đá để xây dựng kinh đô.

Theo đường dạo về phía Đông thành nhà Hồ khoảng 600 m là đền thờ nàng Bình Khương, người vợ hiền dám đập đầu kêu oan cho vị đốc công xây thành Trần Cống Sỹ. Cũng từ đây, du khách men theo đường làng Đông Môn khoảng vài chục mét để tới thăm một ngôi đình làng cổ có kiến trúc tiêu biểu của thế kỷ 18: đình Đông Môn.

den-tho-Khuong-Binh-vnexpress-JPG-137644

Đền thờ nàng Bình Khương

Từ cổng phía Đông, bạn có thể tiếp tục lộ trình đi về phía cổng Tây khoảng hơn 800 m để tham quan ngôi nhà cổ có niên đại hơn 200 tuổi được công nhận là một trong các ngôi nhà cổ dân gian đẹp nhất Việt Nam.

Trong quần thể kiến trúc thành nhà Hồ còn rất nhiều điểm đến thú vị khác như hồ Mỹ Đàm, hang Nàng, núi An Tôn ở phía Tây Bắc hay chùa Giáng, đền thờ Trần Khát Chân phía Đông Nam. Để trọn một vòng khám phá di sản văn hóa thế giới, bạn sẽ phải dành ra ít nhất 2 ngày. Nên nghỉ đêm ở thành phố Thanh Hóa bởi các nhà nghỉ gần Khu di tích hiện còn khá thưa thớt, trong khi nơi đây chỉ cách trung tâm thành phố chừng 45 km.

Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồn sóng dữ, chám cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”. Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chông giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh.

Bà Triệu (225-248)

Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Hải kình ở biển Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chớ không thèm bắt chước người ta cúi đầu cong lưng để làm tỳ thiếp cho người - Triệu Thị Trinh

Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ là, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, lầm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.

Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng là tì thiếp người ta". Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng: "Có Bà nữ tướng. Vâng lệnh trời ra. Trị voi một ngà. Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước. Theo gót Bà Vương". Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng.... dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này.

Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự sạch sẽ, ghét tính dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn. Sau khi bà mất dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí. Bà còn phù hộ cho nhiều thủ lĩnh sa này đánh tan quân xâm lược đất nước. Có người sau này lên làm ngôi vua, như Lý Bô, đã xây đền, lǎng mộ để ghi nhớ công ơn của Bà.

Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam.

Những truyền thuyết về BÀ TRIỆU.

Lệnh Bà sức khoẻ đang xuân
Cỡi đầu voi dữ diệt quân bạo tàn (Hồ Đắc Duy)
1. Chuyện bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà:

Người dân ở thôn Cẩm Trướng thuộc xã Định Công còn truyền lại câu chuyện như sau: Vùng núi này có con voi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ. Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa còn lầy lội) rồi dũng cảm nhẩy lên cưỡi đầu voi và cuối cùng đã khuất phục được con voi hung dữ. Chú voi trắng này sau trở thành người bạn chiến đấu trung thành của bà Triệu.

Tiếng tăm cô gái 19 tuổi trị voi rừng vang dội khắp nơi, càng thu hút thêm nhiều người đi theo bà.

2. Chuyện "Đá biết nói":

Sau khi bà Triệu huấn luyện thuần thục chú voi hung dữ trên, những ngày đầu tụ nghĩa, bà đã ngầm cho đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao giả lời thần nhân mách bảo:

Có bà Triệu tướng,
Vâng lệnh Trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.
Từ đó cả vùng đã đồn ầm lên rằng núi kia biết nói, báo hiệu cho dân chúng biết bà Triệu là "thiên tướng giáng trần" giúp dân, cứu nước. Vì vậy hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to. Họ kéo nhau xuống Phú Điền dựng căn cứ.

“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu mũi mác cho chồng trẩy quân”
(Thơ ca dân gian)

3. Và rất nhiều câu chuyện nửa hư nửa thực, thể hiện tình dân đối với công cuộc khởi nghĩa của bà Triệu:

Như chuyện một ông già mù miền núi đã đi khắp nơi, dùng tiếng đàn, giọng hát của mình để ngâm ngợi cổ vũ dân chúng đứng dậy cứu nước. Một bà cụ hàng nước cố xin cho con gái được theo quân giết giặc, còn mình thì giúp cả chõng chuối với chum nước chè xanh cho nghĩa binh đang trẩy quân qua đỡ lòng, đỡ khát.

Dọc sông Mã, vùng Cẩm Thạch có truyền thuyết và di tích về một bà nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Ngô (ám chỉ bà Triệu)

Vùng Khang Nghệ còn có truyền thuyết nói rằng:

Thời xưa sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát như lá tre. Một chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với bà Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân. Trong một trận giao tranh trên sông nước, vì anh đi chân vòng kiềng nên đã vấp phải dây chằng mà tử trận. Giặc Ngô đang ăn mừng thắng lợi thì hai bờ sông chuyển động. Đất trời nổi cơn giận dữ, hắt rừng cây núi đá xuống lấp cạn dòng sông, chôn vùi cả mấy vạn xác thù...

Lại có câu chuyện đền Cô Thị ở xã Hà Ngọc (Hà Trung). Một cô gái rất thích quả thị, chờ đợi người yêu đi đánh giặc và khi chết biến thành cây thị. Cây thị này chỉ có một quả, không ai hái được, vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại tự dưng vút hẳn lên cao. Cành ấy đời đời ngả về phía đông nam theo hướng người yêu của cô đang ở trong quân dinh bà Triệu. Một ngày thắng trận, chàng trai được phép bà Triệu về thăm làng xóm thì cành cây mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào ống tay áo của chàng...

Và nơi trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn (Phú Điền). Ở đây còn có núi Chung Chinh với 7 đồn lũy tương truyền là quân doanh của bà Triệu, nơi đã từng diễn ra trên ba chục trận đánh với quân Ngô.

Dưới chân núi Tùng, còn có cánh đồng Lăng Chúa (lăng bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc... tương truyền là tên cũ còn lại khi bà Triệu đắp lũy xây thành. Ở đây còn lưu hành rộng rãi truyền thuyết về ba anh em nhà họ Lý đi tìm bà Triệu, rước bà từ quê ra đây dựng doanh trại, sửa soạn khởi nghĩa và tôn bà làm chủ tướng..

4. Tương truyền bà Triệu mất đi, nhưng anh linh vẫn không tan. Nhiều đêm dân làng các vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe văng vẳng trên không trung tiếng voi gầm, ngựa hí và tiếng cồng thúc quân dóng dả.

Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh
(Đại Nam quốc sử diễn ca - Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát)

Năm Lý Bôn khởi nghĩa, ông mộng thấy Bà Triệu hẹn sẽ giúp sức để tiêu diệt quân xâm lược nhà Lương. Quả nhiên, trong một trận giao tranh, bỗng có một cơn lốc xoáy nổi lên. Bọn tướng giặc là Tôn Quýnh, Lý Tử Hùng tối tăm mặt mũi, bị Lý Bôn đánh cho tan nát.

Khi Lý Bôn lên ngôi (Lý Nam đế), nhớ ơn bà phù trợ, đã sai lập miếu thờ, xây lăng mộ bà ở làng Phú Điền, Triệu Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa và phong bà là: "Bật chính Anh liệt Hùng tài Trinh nhất phu nhân".

Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập như thế nào? Hãy nêu những hiểu biết của em về một người Công sản Thanh Háo mà em ấn tượng nhất?

(TTV) - Ngày 29/7/1930, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập tại Làng Yên Trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân. Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh là một bước ngoặt lịch sử quan trọng, là nhân tố quyết định thắng lợi của phong trào đấu tranh cách mạng đánh đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945, đồng thời giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập hiện nay.

db2.jpg

Ngôi nhà diễn ra lễ thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa

Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược Việt Nam. Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thanh Hóa, liên tục vùng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Pháp xâm lược. Các cuộc đấu tranh yêu nước do các sỹ phu phong kiến lãnh đạo, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục diễn ra rộng khắp, thế nhưng đều lần lượt bị địch khủng bố đẫm máu và thất bại, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn của một chính Đảng. Trong bối cảnh đó, ngày 03 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tạo ra bước ngoặt quan trọng đối với phong trào cách mạng trong cả nước và các địa phương. Cũng từ đây phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ rộng khắp. Các chi bộ Cộng Sản: Hàm Hạ - Đông Sơn ; Phúc Lộc - Thiệu Hóa, Yên Trường, Thọ Xuân lần lượt ra đời. Trước tình hình phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ và đang rất cần sự lãnh đạo của Đảng, xuất phát từ yêu cầu cấp bách, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, ngày 29/7/1930, Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được tổ chức tại Làng Yên Trường, Xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân trên cơ sở hợp nhất 3 chi bộ Cộng sản gồm Chi bộ Hàm Hạ, Chi bộ Thiệu Hóa và Chi bộ Thọ Xuân. Đ/c Lê Thế Long được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy và là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ Thanh Hóa.

Ngôi nhà lịch sử chính là của gia đình đ/c Lê Văn Sỹ - Bí thư Chi bộ Yên Trường, huyện Thọ Xuân lúc bấy giờ, được chọn làm địa điểm để tổ chức hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh vào ngày 29 tháng 7 năm 1930. Điều đặc biệt là cũng tại ngôi nhà này trước đó một tuần đã diễn ra sự kiện thành lập chi bộ cộng sản Yên Trường, tiền thân của Đảng bộ huyện Thọ Xuân. Có thể nói sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là bước ngoặt quan trọng đối với Đảng bộ, nhân dân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành chính quyền ở tỉnh ta. Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng kéo dài của phong trào cách mạng do thiếu sự lãnh đạo của một chính Đảng.

Ngay sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng trước mắt đó là: Xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức Nông hội đỏ, Công hội đỏ, cơ quan ấn loát, phát hành tờ báo “ Tiến lên” ......

Trong quá trình hoạt động, mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố dã man, có những thời điểm các Chi bộ Cộng sản và Đảng bộ tỉnh gần như bị cô lập thậm chí là tan rã, nhưng trước yêu cầu bức thiết của lịch sử, bất chấp sự gian khổ, tù đày và hy sinh, các Chi bộ Đảng và Đảng bộ tỉnh nhanh chóng được khôi phục trở lại và tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và đánh đuổi thực Pháp, lật đổ chế độ phong kiến. Từ cuối năm 1935 trở đi, phong trào cách mạng đã phát triển rộng khắp ở nhiều phủ, huyện trong tỉnh, nhằm chuẩn bị cùng với cả nước tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24/7/1945 ở huyện Hoằng Hóa.

Đêm ngày 18, rạng sáng ngày 19/8/1945, sau khi Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh phát lệnh tổng khởi nghĩa, nhân dân và tự vệ các huyện nhất tề vùng lên giành chính quyền. Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa giành thắng lợi nhanh chóng. Ngày 23/8/1945, từ đình làng Ngô Xá Hạ ở căn cứ Thiệu Hóa, lực lượng cứu quốc gồm có hàng nghìn tự vệ của các huyện: Thiệu Hóa, Đông Sơn, Yên Định, Thọ Xuân.....đã tiến về thị xã Thanh Hóa ra mắt quốc dân đồng bào. Đ/c Lê Tất Đắc, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Cách mạng lâm thời tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và kêu gọi toàn dân đoàn kết xây dựng bảo bệ chế độ mới.

Ngoài những hiểu biết của em về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa em còn có một vài thông tin nhỏ của một số người Cộng sản Thanh Hóa mà em có ấn tượng. Và một trong số mà em có ấn tượng đó chính là một thanh niên trẻ và đồng thời cũng là một Cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa ta. Đó chính là thanh niên trẻ Lê Hữu Lập.

Lê Hữu Lập lúc nhỏ tên là Độ (ngoài ra còn một số tên gọi khác như: “Cậu Ấm”, Hoàng tức Thoại, tức Hoàng Lùn), sinh năm 1897 ở thôn Hữu Nghĩa, tổng Xuân Trường, huyện Hậu Lộc (nay là xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), là con một gia đình nho học có khí tiết.

Bia tưởng niệm đ/c Lê Hữu Lập tại xã Xuân Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa

* Lê Hữu Lập - Người thanh niên yêu nước chân chính:

Lúc còn nhỏ tuổi, Lê Hữu Lập được cha, chú mang theo trọ học ở nhiều nơi trong tỉnh. Anh có điều kiện tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn. Tầm hiểu biết ở một thiếu niên ham hiểu biết ngày được mở rộng.

Năm 1918, sau khi tốt nghiệp trường Pháp Việt, được thêm một số kiến thức cả về nho học và tân học, anh càng say sưa suy nghĩ về con đường hoạt động tìm chí hướng. Thông thường ở thời kỳ đó, với cái bằng tiểu học, anh có thể được bổ dụng đi làm trợ giáo hoặc thư ký cho các công sở Pháp hoặc Nam triều để kiếm một cuộc sống sung túc. Nhưng anh coi cái bả vinh hoa phú quý do bọn Tây, bọn vua quan đem lại là một sự đê hèn, nhục nhã. Bởi lẽ đó, mặc dù có một tấm bằng trong tay và được phong hai tiếng “Ấm sinh” (tên gọi đương thời thường được dùng cho các con quan lại từ ngũ phẩm trở lên. Lê Hữu Lập tuy không phải con quan nhưng do kính trọng cụ Lê Cơ và lại là cháu nội của quan án nên được phong là “Ấm sinh”), song anh vẫn cùng bà con dân làng tham gia lao động, hòa mình với quần chúng trong các công việc đồng áng, phu phen tạp dịch ở vùng nông thôn đồng chua nước mặn. Cuộc sống lầm than khổ cực của nông dân, cảnh tô cao, tức nặng của giai cấp địa chủ phong kiến, cảnh bị đánh đập, cùm kẹp… càng khắc sâu hận mất nước của người thanh niên yêu nước Lê Hữu Lập.

Sau khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, phong trào cách mạng trong nước bị bọn thực dân, phong kiến đàn áp dã man. Hàng trăm, ngàn gia đình có người thân tham gia nghĩa quân đã từng chịu cảnh đầu rơi máu chảy. Khắp đó đây nỗi uất hận tràn ngập trong lòng quần chúng. Ngay tại Làng Hữu Nghĩa, nơi chôn rau cắt rốn của đồng chí Lê Hữu Lập, đã có hàng chục gia đình bị tàn sát dã man, hàng trăm nóc nhà bị triệt hạ. Thực tế lịch sử ấy càng hun đúc thêm lòng yêu nước, căm thù giặc trong tâm khảm người thanh niên trẻ tuổi Lê Hữu Lập.

Một ngày hè năm 1922, Lê Hữu Lập đã trực tiếp gặp đồng chí Đinh Chương Dương, một thanh niên lớn tuổi đương thời đã từng nhiều phen bị thực dân Pháp kết tội vì có lòng yêu nước. Đồng chí Đinh Chương Dương đã đem những hiểu biết của mình truyền lại cho Lê Hữu Lập, kể cho anh nghe về các tổ chức cách mạng trong nước, ngoài nước; về các nhà ái quốc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, về chính sách áp bức bóc lột của bọn thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Những ngày tiếp xúc với Đinh Chương Dương tình cảm và lý trí của Lê Hữu lập càng lớn lên. Anh nhận ra một hướng đi mới và luôn suy nghĩ đến điều căn dặn của Đinh Chương Dương: “Muốn làm cách mạng phải đi học cách mạng và muốn đi học cách mạng phải thoát ly gia đình. Tuổi trẻ lúc này phải vươn cánh tay đập mạnh vào đầu giặc, đền nợ nước, trả thù nhà”.

Đầu năm 1923, Lê Hữu Lập tạm biệt mẹ già, người vợ hiền và đứa con thơ mới ba tháng tuổi, bước vào con đường thoát ly hoạt động.

Giữa năm 1924, Lê Hữu Lập được Đinh Chương Dương đưa sang Quảng Châu tham gia vào “Tâm Tâm xã”. Tổ chức này ra đời từ năm 1923 do các đồng chí Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu và một số thanh niên có tư tưởng tiến bộ thành lập tại Quảng Châu, một thành phố ở miền nam Trung Quốc.

* Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa cộng sản:

Trong lúc Tâm Tâm xã đang mò mẫm đi tìm đường lối cách mạng thì tháng 12 năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Trung Quốc.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ được với nhóm Tâm Tâm xã và nhóm cách mạng của cụ Phan Bội Châu. Các đồng chí Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hữu Lập… trong Tâm Tâm xã và một số người khác từ trong nước ra đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc huấn luyện chính trị để đào tạo thành những cán bộ cách mạng.

Đầu năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 6 năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội.

Đồng chí Lê Hữu Lập có vinh dự được sống gần gũi bên cạnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc, một người thầy lỗi lạc, một nhà cách mạng thiên tài, trực tiếp được Người bồi dưỡng về lý luận cách mạng và phương pháp cách mạng, chính điều này đã đưa Lê Hữu Lập đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa cộng sản, con đường đi đúng đắn do Bác Hồ vạch ra cho thanh niên nước ta.

Cuối năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập cùng một số anh em khác trực tiếp được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ rời Quảng Châu về nước tuyên truyền giác ngộ cách mạng và lựa chọn những thanh niên yêu nước ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Trị đưa sang Quảng Châu huấn luyện.

* Những tháng năm sôi động

Lê Hữu Lập về tỉnh nhà vào giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân ta trở nên sôi động, tạo thuận lợi cho đồng chí có điều kiện hoạt động. Anh khẩn trương đi vào nhiệm vụ tuyên truyền con đường cách mạng mới của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 5 năm 1926, tại số nhà 26 phố Hàng Than, Thị xã Thanh Hóa, đồng chí Lê Hữu Lập đã tổ chức Hội đọc sách báo cách mạng. Đồng chí Lê Hữu Lập đã tìm đến những thanh niên yêu nước. Các anh Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Chí Hiền, Mai Xuân Diễn, Lê Văn Thanh, Hoàng Khắc Trung… được anh tổ chức tham gia và trở thành hạt nhân của Hội đọc sách báo cách mạng bí mật.

Sau khi Hội đọc sách báo cách mạng ra đời, lớp thanh niên tiến bộ và những nhà thơ yêu nước bắt đầu được nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ trương của cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, đồng chí Lê Hữu Lập đã tiến hành cuộc vận động xuất dương để học tập con đường cứu nước của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Anh Nguyễn Văn Đắc ở Thị xã Thanh Hóa được Lê Hữu Lập tổ chức chuyến xuất dương đầu tiên (Nguyễn Văn Đắc tức Cao Hoài Nghĩa, sau khi dự xong lớp huấn luyện tại Quảng Châu được cử sang Thái Lan hoạt động trong tổ chức cách mạng của Việt Kiều). Đoàn xuất dương lần đầu thuộc các tỉnh miền Trung gồm có mười người, trong đó có đồng chí Trần Phú, sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng cộng sản Đông Dương.

Sau khi hoàn thành chuyến xuất dương thứ nhất, đồng chí Lê Hữu Lập trở về tiếp tục vận động xuất dương ở Thanh Hóa, Nam Định và Thái Bình. Các đồng chí Nguyễn Mậu Sung (Thọ Xuân) và Võ Danh Thùy (Nông Cống) là hai người được đồng chí Lê Hữu Lập vận động xuất dương lần hai. Ngày 20 tháng 02 năm 1926, đoàn xuất dương lần hai gồm mười người được lệnh lên đường.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thứ nhất: Vận động thanh niên đi sang nước ngoài học tập lý luận cách mạng, đồng chí Lê Hữu Lập bắt tay vào nhiệm vụ thứ hai: Xây dựng tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh nhà.

* Lê Hữu Lập - Người thanh niên cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa

Đầu năm 1927, trên cơ sở Hội đọc sách báo cách mạng phát triển, đồng chí Lê Hữu Lập kịp thời chỉ đạo việc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh Thanh Hóa.

Tháng 4 năm 1927, Ban chấp hành Tỉnh bộ lâm thời Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập gồm ba ủy viên: Lê Hữu Lập, Lê Văn Thanh, Nguyễn Chí Hiền. Đồng chí Lê Hữu Lập được cử làm Bí thư Tỉnh bộ lâm thời.

Một ngày đầu tháng 4 năm 1928, dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Hữu Lập, hội nghị đại biểu Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh Thanh Hóa đã làm việc trong ba buổi và bầu ra Ban chấp hành Tỉnh bộ chính thức gồm bảy ủy viên. Đồng chí Lê Hữu Lập được cử làm Bí thư và sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ.

Năm 1929, đồng chí được cử sang Thái Lan hoạt động.

Tháng 11 năm 1929, đồng chí Lê Hữu Lập bị tòa án Nam Triều Thanh Hóa kết án tử hình vắng mặt.

Tháng 3 năm 1930, tại Hội nghị đại biểu Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở U-Đôn (Thái Lan) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định chuyển tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội thành tổ chức cộng sản. Do công lao đóng góp tích cực cho việc thành lập Đảng cộng sản, đồng chí Lê Hữu Lập đã trở thành đảng viên cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa.

Cuối tháng 8 năm 1930, đồng chí lê Hữu Lập bí mật về nước. Cuối tháng 9 năm 1930, đồng chí thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Hoằng Hóa tại thôn Cự Đà (nay là xã Hoằng Minh huyện Hoằng Hóa).

Cuối năm 1930, đồng chí quay lại Thái Lan hoạt động.

Từ năm 1932 đến năm 1933, đồng chí công tác ban viện trợ cách mạng Đông Dương ở vùng Đông Bắc Thái Lan.

Đầu năm 1934, đồng chí lại được ban viện trợ cách mạng Đông Dương cử về hoạt động tại Nghệ An và được tổ chức bố trí hoạt động tại một cơ sở tại huyện Nghi Lộc. Tại đây đồng chí lâm bệnh nặng.

Hoàn thành được hai lớp huấn luyện ở Nghi Lộc, tạo được cơ sở tư tưởng và tổ chức cho việc khôi phục phong trào thì bệnh tình của đồng chí Lê Hữu Lập đã quá trầm trọng. Các đồng chí ở Nghệ An và quần chúng nhân dân hết lòng chạy chữa nhưng vì điều kiện hoạt động bí mật, thuốc thang khó khăn nên bệnh của anh cứ ngày một nặng.

Vào một ngày cuối tháng 6 năm 1934, Lê Hữu Lập đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà thương Vinh. Vô vàn thương thương tiếc người đồng chí kiên cường, tận tụy vì nghĩa lớn, các đồng chí ở Nghệ An đã đem mai táng anh ở nghĩa địa Tập Phúc, làm mộ chí mang tên Nguyễn Thụ.

Lê Hữu Lập, người chiến sỹ cộng sản lớp trước, người con thân yêu của nhân dân Thanh Hóa đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp của Đảng, của nhân dân. Từ buổi mở đầu, tuổi trẻ Lê Hữu Lập đã chọn được con đường đi đúng đắn do Bác Hồ vạch ra cho thanh niên nước ta. Bằng sự nỗ lực của bản thân, của tổ chức, Lê Hữu Lập đã vận dụng một cách nghiêm túc, sáng tạo và hoạt động ngoan cường với tinh thần xung kích cách mạng theo con đường cứu nước của Bác Hồ.

Ba mươi bảy tuổi đời, độ tuổi tràn đầy nghị lực, Lê Hữu Lập là một trong những người chiến sỹ cộng sản lớp trước của tỉnh nhà đã cống hiến xuất sắc cuộc đời của tuổi trẻ cho sự nghiệp vinh quang của Đảng và đã hoàn thành nhiệm vụ. Hoạt động và sự cống hiến của đồng chí Lê Hữu Lập đã góp phần viết nên những trang sử mở đầu rực rỡ trong lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa.

Câu 5: Ngày 20/2/1947 , Bác Hồ vào thăm Thanh Hóa và căn dặn: “Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu… phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là tỉnh kiểu mẫu , làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến”. Thực hiện lời căn dặn của Bác, sau 30 năm đổi mới (1986-2016) Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa đã phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng nên các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Em hãy nêu một thành tựu nổi bật nhất góp phần đưa Thanh Hóa từng bước trở thành tỉnh kiểu mẫu. Liên hệ trách nhiệm bản thân?

Suốt 65 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thanh Hóa luôn canh cánh trong lòng lời dạy và cũng là mong muốn của Bác là xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu. Tuy chưa được như mong muốn, song nhờ quyết tâm phấn đấu để đền đáp công ơn trời biển của Bác, Thanh Hóa đã có những bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực.

Dấu ấn những mô hình kiểu mẫu theo lời Bác

Sinh thời, Bác Hồ đã nhiều lần về thăm Thanh Hóa, Bác cũng dành nhiều tình cảm động viên kịp thời Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa qua những lần ký sắc lệnh tặng các phần thưởng cao quý, gửi thư khen, gửi tặng huy hiệu của Người, hay qua những bài báo viết về những điển hình ở Thanh Hóa... Đáp lại tình cảm sâu đậm của Bác, cả trong kháng chiến và xây dựng đất nước, từng địa phương, từng đơn vị trên địa bàn tỉnh đã luôn nỗ lực thi đua theo lời Bác dạy.

Bác Hồ nói chuyện với đại biểu nhân sỹ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa (tranh sơn dầu).


Trong những năm tháng chiến tranh, nức tiếng không chỉ ở Thanh Hóa mà còn được cả nước biết đến và học tập như: Nhân dân xã Đông Anh, Đông Sơn giúp bộ đội địa phương nhiều nhất; huyện Vĩnh Lộc xóa xong nạn mù chữ trước thời hạn quy định và sớm nhất trong các huyện miền Bắc; kinh nghiệm chăn nuôi, cải tiến nông cụ của các xã Đại Phong, Xuân Lai, Quảng Hải; Hợp tác xã Đông Phương Hồng xây dựng tốt hợp tác xã, đạt năng suất lúa cả năm trên 6,5 tấn/ha, Hợp tác xã cơ khí Thành Công… Rồi tấm gương các cụ lão dân quân xã Hoằng Trường (huyện Hoằng Hóa) mặc dù tuổi cao nhưng vẫn kiên cường bắn rơi máy bay địch bằng súng bộ binh; Chị em trong đội dân quân gái các xã ven biển huyện Hậu Lộc anh dũng bám trận địa bắn rơi nhiều máy bay địch; Quân dân Nam Ngạn - Hàm Rồng đã không tiếc máu xương ngày đêm đảm bảo huyết mạch giao thông để góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của cả dân tộc…

Bước vào thời kỳ đổi mới, mảnh đất Thanh lại có thêm những điểm sáng, những lá cờ đầu, những đơn vị, những huyện kiểu mẫu trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu biểu như Yên Định - huyện anh hùng đầu tiên trong thời kỳ đổi mới, là địa phương đã mạnh dạn đi đầu với những mô hình thiết thực, hiệu quả đã đem lại cuộc sống ấm no cho nông dân. Nhiều mô hình ở Yên Định đã và đang được nhân rộng như: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ nâng cao giá trị sản xuất, cơ giới hóa nông nghiệp, dồn điền đổi thửa, huy động nguồn lực từ nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu… Hiện nay, Yên Định đang là địa phương dẫn đầu toàn tỉnh trong xây dựng nông thôn mới với 26/27 xã đều đạt từ 9 tiêu chí trở lên, trong đó có 4 xã đạt 13 tiêu chí… Hay như Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn - một doanh nghiệp hàng đầu của ngành mía đường Việt Nam, mô hình liên kết giữa nông dân - doanh nghiệp đạt nhiều hiệu quả và bền vững. Nơi đây đang tạo công ăn việc làm ổn định cho trên 30.000 lao động.

Ông Đỗ Trọng Hưng, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa, cho biết: “Nhân dịp kỷ niệm 65 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa, tỉnh sẽ tổ chức nhiều hoạt động như: Hội thảo 65 năm Thanh Hóa làm theo lời Bác; trao giải cuộc thi tìm hiểu "Bác Hồ với Thanh Hóa, Thanh Hóa làm theo lời Bác dạy"; Triển lãm tranh ảnh về đề tài: Bác Hồ với Thanh Hóa, Thanh Hóa làm theo lời Bác; Tổ chức các chương trình văn nghệ, chiếu phim tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh; chương trình nghệ thuật “Quê Thanh nhớ Bác”... Đặc biệt, vào sáng 20/2, tỉnh Thanh Hóa sẽ long trọng tổ chức Lễ mít tinh kỷ niệm 65 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa và phát động phong trào thi đua "Chung sức xây dựng nông thôn mới", xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu".

Với tinh thần đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, từ một tỉnh nghèo, hiện nay Thanh Hóa trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển ổn định, cơ sở hạ tầng bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa. Tỉnh đã gia nhập câu lạc bộ các tỉnh đạt 1,5 triệu tấn lương thực trở lên và thu ngân sách hàng ngàn tỷ đồng. Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm. An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đặc biệt, nền công nghiệp của Thanh Hóa đang trên đà phát triển mạnh, xếp thứ 13 trong cả nước, đây là bước đệm vững chắc để Thanh Hóa cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020...

Quyết tâm xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu

Khắc ghi lời dạy của Bác, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa đang thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp để sớm xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu. Ông Mai Văn Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí Thư Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết: "Thanh Hóa xác định việc xây dựng thành tỉnh kiểu mẫu là việc làm liên tục, lâu dài được kế thừa và phát triển, đòi hỏi phải thực hiện kiên quyết, bền bỉ.

Nhưng trước hết, tỉnh tập trung thực hiện tốt và có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra, bởi đây là những yếu tố quyết định sớm đưa Thanh Hóa trở thành một trong những tỉnh tiên tiến của cả nước, làm tiền đề để xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu. Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, triển khai nhanh Nghị quyết TW 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Xuyên suốt trong công tác lãnh chỉ đạo của tỉnh ủy là phải xây dựng cho được con người kiểu mẫu, nhất là những cán bộ, đảng viên, những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cấp. Chính họ là hạt nhân để xây dựng phong trào, đưa tập thể phát triển và sớm thành những mô hình kiểu mẫu. Tỉnh cũng sẽ ban hành những chính sách phù hợp nhằm phát huy dân chủ, huy động mọi nguồn lực trong nhân dân để phát triển về mọi mặt...".

Ngày 20/2/1947 - lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa, tại thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, trong buổi nói chuyện với các đại biểu nhân sỹ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Bác Hồ đã căn dặn: "Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu, thì phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu".

Từ lời dạy của Người, trong dịp kỷ niệm 65 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm, tỉnh Thanh Hóa sẽ cụ thể hóa các tiêu chí kiểu mẫu để từng người, từng nhà, từng xã, phường, đơn vị, huyện thị, thành phố và cả tỉnh học tập và làm theo. Để thực hiện có hiệu quả mong muốn của Bác, Thanh Hóa lựa chọn và ưu tiên thực hiện các lĩnh vực trọng tâm. Trước mắt từ nay đến năm 2015 tỉnh tập trung đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát huy mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh của các vùng, miền, các thành phần kinh tế. Tạo bước chuyển biến rõ nét về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng chú trọng sản xuất hàng hóa và xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Đồng thời tập trung phát triển công nghiệp để thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong đó, xúc tiến mạnh mẽ việc thu hút đầu tư để sớm đưa Khu kinh tế Nghi Sơn từng bước trở thành trọng điểm phát triển phía nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, tạo động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cả tỉnh và các tỉnh lân cận.

Nhân dân và lãnh đạo của tỉnh Thanh Hóa chắc phải thực sự cố gắng để có thể vươn đến một cái đích như ngày hôm nay. Dù chưa đến cái đích ấy bền vững nhưng tinh thần của người dân lẫn lãnh đạo của tỉnh vẫn sẽ không bao giờ thay đổi khi thanh Hóa trở thành một tỉnh kiểu mẫu như bác đã từng mong ước. Chắc chắn chúng ta sẽ không thể để lời ước mong của Người dập tắt theo một cơn gió nhỏ. Mà cũng vì thế mà chúng em những người học sinh, những người bạn nhỏ cũng phải có một cái công để giúp Thanh Hóa vươn lên. Người xưa có câu:

Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại, nên hòn núi cao

Và cũng chính vì thế mà dù cái công của những tiến sĩ tí hon của chúng em sẽ cố gắng học tập. Những công lao nhỏ bé ấy sẽ “ chụm “ lại để trở thành một quả núi to và vững chắc. Tất cả những công lao của người dân, lãnh đạo và các chiến sĩ tí hon chắc chắn sẽ đưa Thanh Hóa trở thành một tỉnh kiểu mẫu. Sẽ vươn lên về mọi mặt: Mặt trính trị, kinh tế và quân sự thực sự phải là tỉnh kiểu mẫu. Và trách nhiệm của em cũng chính như bao bạn nhỏ khác (các chiến sĩ tý hon) phải có trách nhiệm riêng cho chính bản thân mình nói chung và của riêng em nói riêng.