Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Nghệ An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 102
Số lượng câu trả lời 1347
Điểm GP 105
Điểm SP 2510

Người theo dõi (417)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Soạn bài: Luyện tập lập luận giải thích

Đề bài: Một nhà văn có nói "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người". Hãy giải thích nội dung câu nói đó.

A. Tìm hiểu đề và tìm ý:

- Đề yêu cầu giải thích vấn đề: Sách mãi mãi là nơi lưu giữ trí tuệ con người.

- Các từ then chốt cần giải thích:

Sách là gì?

Hình thức của nó.

Nội dung của nó.

Ngọn đèn sáng bất diệt: Soi ánh sáng mãi mãi cho trí tuệ con người.

Trí tuệ là gì?

B. Lập dàn bài:

I. Mở bài:

Loài người phát triển gắn với những thành tựu trí tuệ.

Sách là nơi lưu giữ những thành tựu đó.

Vì thế có nhà văn nói: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người".

II. Thân bài:

(1) Hình ảnh ngọn đèn sáng bất diệt là ánh sáng soi rọi mãi mãi. Vì thế sách mãi mãi làm cho trí tuệ con người được soi rọi sáng sủa.

(2) Nói tới sách là nói tới trí tuệ con người.

Đây là hình thức lưu giữ tri thức từ xưa tới nay.

Nội dung của nó là tri thức phong phú và sâu sắc của con người.

(3) Những dẫn chứng cho thấy sách là trí tuệ bất diệt:

Những tác phẩm ghi lại truyện ở dân gian, ca dao dân ca của nhân dân ta.

Những tác phẩm khoa học vô giá của các nhà khoa học, những tác phẩm căn chương của các nhà văn.

Sách giáo khoa là sự kết tinh những cuốn sách mang trì tuệ con người.

(4) Hiểu sâu thêm câu nói thông qua những câu nói khác về sách.

Chẳng hạn:"Sách mở ra những chân trời mới cho mọi người".

III. Kết bài:

Khẳng định lại tác dụng to lớn của việc đọc sách

Nếu phương hướng hành động cá nhân.

Mộ số đoạn văn tham khảo:

Mở bài:

Đời sống ngày một nâng cao, yêu cầu về học thức của mỗi con người ngày càng cần thiết. Phương tiên để học hữu hiệu, đạt kết quả tốt nhất đó chính là sách. Sách đối với trí tuệ con người là quan trọng. Nó tu dưỡng nhân cách, ý thức của mỗi chúng ta. Chính vì vậy mới có câu rằng: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người".

Kết bài:

Có thể nói sách chính là phương tiện để chúng ta học tập, là nguồn động lực để chúng ta vươn xa. Do đó chúng ta trước hết phải hiểu được vai trò, giá trị của nó, biết chọn lựa, sau đó là hãy biết sử dụng nó đúng mục đích để sách luôn luôn mang một vị trí quan trọng trong đời sống mỗi con người hay nói rõ hơn là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ loại người.

Các bài soạn văn lớp 7 hay khác:

Mục lục Soạn văn lớp 7 tập 1 Mục lục Soạn văn lớp 7 tập 2 Luyện tập lập luận chứng minh Đức tính giản dị của Bác Hồ Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh Ý nghĩa của văn chương Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) Luyện tập viết đoạn văn chứng minh Ôn tập văn nghị luận Dùng cụm chủ vị để mở rộng câu Sống chết mặc bay Cách làm bài văn lập luận giải thích Luyện tập lập luận giải thích Viết bài tập làm văn số 6: Văn lập luận giải thích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu: Luyện tập (tiếp theo) Luyện nói: Bài văn giải thích một số vấn đề

Câu trả lời:

Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H2O. Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống. 70% diện tích của Trái Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống.

cau tao nuoc

cấu tạo nước


Bên cạnh nước "thông thường" còn có nước nặng và nước siêu nặng. Ở các loại nước này, các nguyên tử hiđrô bình thường được thay thế bởi các đồng vị đơteri và triti. Nước nặng có tính chất vật lý (điểm nóng chảy cao hơn, nhiệt độ sôi cao hơn, khối lượng riêng cao hơn) và hóa học khác với nước thường.


Phân tử nước
Phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hiđrô và một nguyên tử ôxy. Về mặt hình học thì phân tử nước có góc liên kết là 104,45°. Do các cặp điện tử tự do chiếm nhiều chỗ nên góc này sai lệch đi so với góc lý tưởng của hình tứ diện. Chiều dài của liên kết O-H là 96,84 picômét.
Tính lưỡng cực [sửa]


Tính lưỡng cực
Ôxy có độ âm điện cao hơn hiđrô. Việc cấu tạo thành hình ba góc và việc tích điện từng phần khác nhau của các nguyên tử đã dẫn đến cực tính dương ở các nguyên tử hiđrô và cực tính âm ở nguyên tử ôxy, gây ra sự lưỡng cực. Dựa trên hai cặp điện tử đơn độc của nguyên tử ôxy, lý thuyết VSEPR đã giải thích sự sắp xếp thành góc của hai nguyên tử hiđrô, việc tạo thành moment lưỡng cực và vì vậy mà nước có các tính chất đặc biệt.

Vì phân tử nước có tích điện từng phần khác nhau nên một số sóng điện từ nhất định như sóng cực ngắn có khả năng làm cho các phân tử nước dao động, dẫn đến việc nước được đun nóng. Hiện tượng này được áp dụng để chế tạo lò vi sóng.
Liên kết hiđrô


Liên kết hiđrô
Các phân tử nước tương tác lẫn nhau thông qua liên kết hiđrô và nhờ vậy có lực hút phân tử lớn. Đây không phải là một liên kết bền vững. Liên kết của các phân tử nước thông qua liên kết hiđrô chỉ tồn tại trong một phần nhỏ của một giây, sau đó các phân tử nước tách ra khỏi liên kết này và liên kết với các phân tử nước khác.

Đường kính nhỏ của nguyên tử hiđrô đóng vai trò quan trọng cho việc tạo thành các liên kết hiđrô, bởi vì chỉ có như vậy nguyên tử hiđrô mới có thể đến gần nguyên tử ôxy một chừng mực đầy đủ. Các chất tương đương của nước, thí dụ như đihiđrô sulfua (H2S),

không tạo thành các liên kết tương tự vì hiệu số điện tích quá nhỏ giữa các phần liên kết. Việc tạo chuỗi của các phân tử nước thông qua liên kết cầu nối hiđrô là nguyên nhân cho nhiều tính chất đặc biệt của nước, thí dụ như nước mặc dù có khối lượng mol nhỏ vào khoảng 18 g/mol vẫn ở thể lỏng trong điều kiện tiêu chuẩn. Ngược lại, H2S tồn tại ở dạng khí cùng ở trong những điều kiện này. Nước có khối lượng riêng lớn nhất ở 4 độ Celcius và nhờ vào đó mà băng đá có thể nổi lên trên mặt nước; hiện tượng này được giải thích nhờ vào liên kết cầu nối hiđrô.

Cấu tạo của phân tử nước tạo nên các liên kết hiđrô giữa các phân tử là cơ sở cho nhiều tính chất của nước. Cho đến nay một số tính chất của nước vẫn còn là câu đố cho các nhà nghiên cứu mặc dù nước đã được nghiên cứu từ lâu.
Nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi của nước đã được Anders Celsius dùng làm hai điểm mốc cho độ bách phân Celcius. Cụ thể, nhiệt độ nóng chảy của nước là 0 độ Celcius, còn nhiệt độ sôi (760 mm Hg) bằng 100 độ Celcius. Nước đóng băng được gọi là nước đá. Nước đã hóa hơi được gọi là hơi nước. Nước có nhiệt độ sôi tương đối cao nhờ liên kết hiđrô


Dưới áp suất bình thường nước có khối lượng riêng (tỷ trọng) cao nhất là ở 4 °C: 1 g/cm³ đó là vì nước vẫn tiếp tục giãn nở khi nhiệt độ giảm xuống dưới 4 °C. Điều này không được quan sát ở bất kỳ một chất nào khác. Điều này có nghĩa là: Với nhiệt độ trên 4 °C, nước có đặc tính giống mọi vật khác là nóng nở, lạnh co; nhưng với nhiệt độ dưới 4 °C, nước lại lạnh nở, nóng co. Do hình thể đặc biệt của phân tử nước (với góc liên kết 104,45°), khi bị làm lạnh các phân tử phải dời xa ra để tạo liên kết tinh thể lục giác mở. Vì vậy mà tỉ trọng của nước đá nhẹ hơn nước thể lỏng.[1]


Khi đông lạnh dưới 4 °C, các phân tử nước phải dời xa ra để tạo liên kết tinh thể lục giác mở.
Nước là một dung môi tốt nhờ vào tính lưỡng cực. Các hợp chất phân cực hoặc có tính ion như axít, rượu và muối đều dễ tan trong nước. Tính hòa tan của nước đóng vai trò rất quan trọng trong sinh học vì nhiều phản ứng hóa sinh chỉ xảy ra trong dung dịch nước.


Nước tinh khiết không dẫn điện. Mặc dù vậy, do có tính hòa tan tốt, nước hay có tạp chất pha lẫn, thường là các muối, tạo ra các ion tự do trong dung dịch nước cho phép dòng điện chạy qua.
Về mặt hóa học, nước là một chất lưỡng tính, có thể phản ứng như một axit hay bazơ. Ở 7 pH (trung tính) hàm lượng các ion hydroxyt (OH-) cân bằng với hàm lượng của hydronium (H3O+). Khi phản ứng với một axit mạnh hơn thí dụ như

HCl, nước phản ứng như một chất kiềm:
HCl + H2O ↔ H3O+ + Cl-
Với ammoniac nước lại phản ứng như một axit:
NH3 + H2O ↔ NH4+ + OH-
Nước trong đời sống

Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước.


Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu. Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của vài vùng châu Âu.
Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp.


Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong vài thập niên tới đây. Nguồn nước cũng đã là nguyên nhân gây ra một trong những cuộc chiến tranh ở Trung Cận Đông.
Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), Như là chất trao đổi nhiệt.
cau tao cua nuoc


Nhà triết học người Hi Lạp Empedocles đã coi nước là một trong bốn nguồn gốc tạo ra vật chất (bên cạnh lửa, đất và không khí). Nước cũng nằm trong Ngũ Hành của triết học cổ Trung Hoa.


Với tình trạng ô nhiễm ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước sạch dự báo sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý giá không kém dầu mỏ trong thế kỷ trước. Nhưng không như dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên liệu khác như điện, nhiên liệu sinh học, khí đốt..., nhưng nước thì không thể thay thế và trên thế giới tất cả các dân tộc đều cần đến nó để bảo đảm cuộc sống của mình, cho nên vấn đề nước trở thành chủ đề quan trọng trên các hội đàm quốc tế và những mâu thuẫn về nguồn nước đã được dự báo trong tương lai.

Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H2O. Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống

Với nguồn nước bị ô nhiễm như hiện nay việc người dân nên tự bảo vệ sức khỏe của mình và gia đình là điều cần thiết, mọi người cần gắn hệ thống xử lý nước, máy lọc nước để đảm bảo sức khỏe của gia đình.

Câu trả lời:

Hướng nội là một tính cách cơ bản thường thấy ở con người. Tuy nhiên không phải ai cũng dễ dàng phát hiện ra mình có phải là một người hướng nội hay không.

Nói đơn giản, người hướng nội là người sống nội tâm, họ thích cuộc sống kín đáo; thường hài lòng với cuộc sống không ồn ã và bon chen, có ít bạn bè nhưng thường thì bạn bè rất thân. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng người hướng nội thường hay có suy nghĩ tiêu cực, dễ tổn thương và quá nhạy cảm...

Vậy điều này liệu có phải là sự thực? Hãy cùng check xem bạn có phải là người hướng nội hay không qua bài viết dưới đây.

Trước tiên, bạn hãy thử tìm xem đâu là dấu hiệu của một người có tính cách hướng nội:

Rất nhạy cảm. Suy nghĩ thấu đáo trước khi nói. Sống nội tâm. Thông minh. Cảm xúc tiêu cực. Sợ các tình huống xã hội. Tính tự vệ cao. Dễ bị tổn thương. Thích sự cô đơn, thay vì tương tác xã hội.

Hẳn bạn đã đưa ra một số dấu hiệu cho riêng mình. Và đây là câu trả lời: tất cả dấu hiệu trên không chỉ ra một người có tính cách hướng nội.

Tính hướng nội là một trong những tính cách dễ gây hiểu lầm nhất ở người. Khái niệm “hướng nội”“hướng ngoại” được định nghĩa đầu tiên bởi Carl Jung - một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ.

Jung định nghĩa “hướng nội” là những người có năng lượng tinh thần “hướng vào bên trong”, hoạt động mạnh hơn khi suy nghĩ một mình và thu hẹp khi tương tác với đông người.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Scott Barry Kaufman - nhà khoa học và tâm lý học tại ĐH New York (Mỹ), định nghĩa này không còn phù hợp trong tâm lý xã hội thời hiện đại.

Những lầm tưởng thường thấy về tính hướng nội

Jung định nghĩa hướng nội và hướng ngoại dựa trên lý thuyết, kinh nghiệm và trực giác của bản thân. Còn tâm lý học hiện đại cho rằng, “hướng nội” chỉ là cá tính đối nghịch với “hướng ngoại”.

Trong khi đó, hướng ngoại là một trong năm cá tính thuộc Mô hình tính cách con người (Five factor model - Big 5), bao gồm cả tính dễ bị kích thích (neuroticism), tính dễ chấp nhận (agreeableness), tính tận tâm (conscientiousness), tính cởi mở để trải nghiệm (openness to experience).

Định nghĩa trên được đưa ra dựa theo kết quả thực nghiệm về các hành vi có xu hướng đi cùng nhau đối với một cá nhân.

Tuy vậy, dựa vào kết quả nghiên cứu mới nhất về tính cách con người, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những lầm tưởng phổ biến nhất về hướng nội - ngoại.

Đầu tiên là người có tính hướng nội thường sống nội tâm hơn hướng ngoại.Trên thực tế, tính hướng nội không nhất thiết là người hay nhìn lại nội tâm và cũng không có gì đảm bảo người sống nội tâm phải mang tính hướng nội.

Ngoài ra, những người có tính hướng nội thường suy nghĩ lâu trước khi nói, không phải vì họ suy nghĩ thấu đáo hơn, mà vì họ cần nhiều thời gian hơn để suy nghĩ mà thôi.

Một lầm tưởng khác, đó là nhiều người coi “hướng nội - hướng ngoại” là một phần thuộc cá tính “cởi mở để trải nghiệm”. Nhưng cá tính này gắn liền với chỉ số thông minh IQ, bao gồm nhận thức, trí tuệ, trí tưởng tượng, cảm xúc; trong khi tính “hướng nội” thì không liên quan đến chỉ số này.

Những đặc điểm khác như nhạy cảm, sợ các tình huống xã hội cũng không liên quan đến cá tính hướng nội - hướng ngoại. Hầu hết mọi người cho rằng mình hướng nội, chỉ vì họ quá nhạy cảm. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy độ nhạy khi xử lý cảm xúc làm việc độc lập với tính hướng nội.

Những biểu hiện của một người nhạy cảm: dễ ức chế, nhạy với tác động bên ngoài… gắn liền với tính “dễ bị kích thích thần kinh”- neuroticism.

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người tự cho rằng mình có tính “hướng nội nhạy cảm” (sensitive introverts). Những người này luôn bị ám ảnh bởi cảm giác được xã hội chú ý. Họ rất dễ bị tổn thương vì nhận xét, dù là nhỏ nhất của người khác. Họ thường xuyên phiền muộn khi người khác không nhìn ra khả năng của họ.

Tuy nhiên, thực chất đây thuộc vào hội chứng “tự mê ngầm”- (covert narcissist), liên quan đến tình trạng dễ bị kích thích thần kinh neuroticism.

Cuối cùng lầm tưởng phổ biến hơn cả, đó là những người hướng nội thích hoạt động độc lập. Nhưng theo Kaufman, đây không phải là đặc điểm của tính hướng nội. Đặc điểm này là sự pha trộn giữa tính hướng nội và tính cách “cởi mở để trải nghiệm”, chứ không hoàn toàn thuộc về hướng nội.

Bài test tâm lý chỉ ra bạn có phải là người sống nội tâm

Để biết được điều này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một bài trắc nghiệm, bao gồm 20 câu. Bài trắc nghiệm được đánh giá dựa trên hai đặc điểm liên quan đến“hướng nội- hướng ngoại”: sự nhiệt tình và sự quyết đoán. Bạn cần làm chính xác theo từng bước của bài trắc nghiệm dưới đây thì mới có được kết quả chính xác nhất.

Sự nhiệt tình gắn với những đặc điểm liên kết xã hội như sự thân thiện, tự thuật về bản thân, thích chốn đông người và những cảm xúc tích cực.

Sự quyết đoán lại gắn với địa vị xã hội như khả năng lãnh đạo, khả năng lấn át, khiêu khích, nói nhiều và khả năng thuyết phục.

Bước 1: Bạn đánh giá từng đáp án theo thang điểm từ 1 - 5, 1 điểm (không hề đúng) đến 5 điểm (hoàn toàn đúng với bản thân). Chú ý ghi lại số điểm của từng câu để có thể dễ dàng thực hiện tiếp bước 2.

1. Kết bạn dễ dàng.
2. Rất khó để làm bạn cùng.
3. Giữ khoảng cách với mọi người.
4. Tiết lộ rất hạn chế về bản thân.
5. Nhanh chóng đón nhận người khác.
6. Hiếm khi phấn khích lộ liễu.
7. Không phải là người nhiệt tình.
8. Thể hiện cảm xúc khi vui vẻ.
9. Luôn vui vẻ.
10. Cười nhiều.
11. Sẵn sàng chịu trách nhiệm.
12. Có cá tính mạnh.
13. Thiếu khả năng gây ảnh hưởng đến người khác.
14. Biết cách thu hút người khác.
15. Đợi người khác lãnh đạo.
16. Tự thấy bản thân là một lãnh đạo tốt.
17. Có thể thuyết phục người khác làm việc.
18. Luôn giữ lại các ý kiến cá nhân.
19. Là người đầu tiên hành động.
20. Không có tính quyết đoán.

Bước 2: Đảo ngược kết quả các câu 2, 3, 4, 6, 7, 13, 15, 18, 20 (tức là thay thế điểm số: 5=1, 4=2, 3=3, 2=4, và 1=5). Tính tổng điểm của 20 câu rồi lấy trung bình cộng.

Sau đó thì check bảng kết quả dưới đây nhé:

< 3.0: bạn có tính hướng nội.

3,1 - 3,8: bạn là một ambivert - đứng giữa hai tính cách.

> 3,9: bạn có tính hướng ngoại.