Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 37
Số lượng câu trả lời 947
Điểm GP 112
Điểm SP 955

Người theo dõi (179)

Bùi Thảo Vy
Đào Thọ
Vũ Đình Lưu
Hàn Chính Thiên

Đang theo dõi (23)

Hung nguyen
Hà Đức Thọ
Mai Linh
Hoàng Phúc
Nguyễn Minh Tâm

Câu trả lời:

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài thơ có một nhan đề rất độc đáo: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Ngay từ đầu, nhan đề bài thơ đã dự báo một giọng điệu riêng của Phạm Tiến Duật: đề cập đến một đề tài hết sức đời thường, gần gũi với cuộc sống của người lính trên đường ra trận. Đó là chất thơ của hiện thực khắc nghiệt, chất lãng mạn của tuổi trẻ trước vận mệnh vinh qung: chiến đấu để giải phóng quê hương, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.

2. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh đoàn xe nối nhau ra trận. Vào cuộc chiến có nghĩa là mất đi rất nhiều, đến chiếc xe cũng phải mất mát, sẻ chia. Câu mở đầu bài thơ rất giản dị mà bất ngờ:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Ba chữ “không” như thể giằng nhau trong một câu thơ, dù chỉ để thông tin về một sự thật “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Có vẻ như nhà thơ đang phân bua một cách nghịch ngợm, cho sự hiện diện không trọn vẹn của chiếc xe:

- Không có kính, rồi xe không có đèn,

- Không có mui xe, thùng xe có xước…

Nhưng không phải, bởi bù lại cái “sự thiếu hụt” đáng yêu ấy, người lính lại thoả thuê trong những cảm nhận trên đường:

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

…Gặp bạn bè suốt dọc đương đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Đọc đến đây, dường như cảm giác xe “không có kính” bị chìm đi, nhường chỗ cho những thanh âm trong trẻo bình yên ùa vào trong khoảng lặng của cuộc chiến tranh khốc liệt. Cuộc sống của người lính bỗng trở nên thật đẹp. Tâm hồn lãng mạn của họ vẫn dạt dào thăng hoa trong bộn bề gian truân, mất mát. Sao trời vẫn sáng đường chiến dịch, những cánh chim vẫn bền bỉ, “đột ngột” mà không cô đơn. Từ “đột ngột” rất đắt dùng trong câu đảo thành phần này diễn tả một động thái đẹp của thiên nhiên, của cánh chim trời. Cánh chim được tính từ hoá để cuối cùng được người hoá qua hai động từ “ sa, ùa” hết sức tự nhiên. Tất cả những điều ấy đủ nói lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe, thể hiện qua khát vọng sống cao cả và kiên cường. Mặc dù “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” nhưng đây là tư thế của họ:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn  trời, nhìn thẳng.

     Tư thế ung dung, lạc quan yêu đời trước hoàn cảnh gian nguy càng tôn thêm phẩm chất của người lính. Mặc kệ “ gió xoa vào mắt đắng”, mặc kệ “mưa tuân ma xối” người lính vẫn nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim, thấy sao trời và đột ngột cánh chim. Một loạt hình ảnh vụt hiện tạo ra những cảm giác, ấn tượng vừa quen, vừa lạ . Đẹp và hiên ngang. Gian khổ nhường ấy, nhưng tinh thần người lính vẫn vượt lên, vẫn yêu đời:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Những câu thơ đặ tả thực tế, kể cả những tiếng “ừ” rất đời thường và ngang tàng chất lính ấy như thể thách thức cùng gian khó:

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Con đường ra trận, trong thơ Phạm Tiến Duật thường có nhiều tiếng hát, từ Trường Sơn đông Trường Sơn tây đến Gửi em cô thanh niên xung phong, và trong bài thơ này, Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Đó là con đường “chạy thẳng vào tim”. Trái tim ấy là miền Nam phía trước. Trái tim mang một hàm nghĩa thiêng liêng. Ngay kể cả khái niệm “gia đình” theo cách diễn đạt của Phạm Tiến Duật thể hiện trong bài thơ cũng mang một nét nghĩa rất mới:

- Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

- Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm

Mục tiêu cao cả là miền Nam phía trước, là giải phóng đất nước quê hương. Chính vì thế:

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Trái tim ấy là trái tim người lính, là sứ mệnh vinh quang của tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh tiếp nối các thế hệ cha anh đang trên đường ra trận. Câu thơ cuối mang màu sắc triết lí – một triết lí thật đơn sơ nhưng rất đỗi chân thực và mang tầm thời đại. Bức chân dung của người lính lái xe trong bài thơ là bức chân dung tràn đầy sức sống, bức chân dung của niềm tin thắng lợi.

3. Cùng với Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Gửi em cô thanh niên xung phongBài thơ về tiểu đội xe không kính góp phần thể hiện vị trí và khẳng định phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật trong thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

Đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật, đồng thời thể hiện nổi bật tinh thần tự tin, tươi trẻ của lớp lớp thanh niên Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn một thời oanh liệt. Khi đọc, cần chú ý:

- Tinh thần ung dung của người lính sẵn sàng ra trận, thể hiện trong tiết tấu các câu thơ:

 Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

- Chất giọng khí khái ngang tàng, bất chấp gian khổ, thể hiện trong các cấu trúc lặp lại:

Không có kính, ừ thì có bụi

                Không có kính, ừ thì ướt áo

Không có kính, rồi xe không có đèn.

Câu trả lời:

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khúc hát ru những em bé lớn trên l­ưng mẹ ngân lên khi đất nước còn đang oằn mình d­ới bom đạn chiến tranh. Đất nư­ớc ấy, trong cảm hứng của Nguyễn Khoa Điềm là "Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại". Đất n­ước trải nhiều đau thương cũng là đất nước của khát vọng hoà bình. Tâm hồn Việt Nam ưa chuộng thơ ca, đất nước Việt Nam luôn vang tiếng hát, trong chiến đấu cam go cũng nh­ khi lao động, trong gian khó cũng nh­ lúc thảnh thơi :

Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát

Ng­ười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi...

(Nguyễn Khoa Điềm,

Trích Tr­ờng ca mặt đ­ường khát vọng)

Đó cũng là đất nư­ớc của những khúc hát mẹ ru con ngàn đời. Là cánh cò bay lả bay la trong lời ru con của bà mẹ Bắc Bộ, là gió mùa thu thao thức năm canh trong câu hát bà mẹ phư­ơng Nam,... và, là lời ru của bà mẹ dân tộc Tà-ôi trong khúc hát của Nguyễn Khoa Điềm. Mạch cảm hứng về Đất nước thêm một lần kết tụ, phổ thành tình yêu th­ương con, ước vọng cho con, thành tinh thần chiến đấu, khát vọng tự do của bà mẹ dân tộc trong lời ru ngọt ngào, tha thiết.

Hát ru vốn sống trong dân gian, của dân gian, là tâm tư­, tình cảm của bao ngư­ời, bao đời. Khúc hát của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng có được sức sống ấy, nên cứ ngỡ nó là một sáng tác dân gian !

2. Có thể dễ dàng nhận thấy bài thơ đư­ợc chia thành 3 phần, ba khúc hát, mỗi khúc đư­ợc mở đầu giống nhau bằng hai câu "Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi ; Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ" và kết thúc mỗi khúc là lời ru trực tiếp của ngư­ời mẹ. Cũng có thể xem ở mỗi khúc có hai lời ru : "lời ru của nhà thơ và lời ru của mẹ" (Theo Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giaó dục, 2001, tr. 395) Nh­ưng dù là lời ru của mẹ hay lời của nhà thơ thì các câu thơ đều được ngắt nhịp đều đặn ở giữa. Đối với những câu 7 chữ là nhịp 3/4, đối với câu thơ 8 chữ là nhịp 4/4. Như nhịp bước chân, nhịp lên xuống của lư­ng mẹ, như nhịp chày, nhịp tỉa bắp, tra hạt, như nhịp thở ấm nồng,... Nhịp nhàng, đều đặn, dìu dặt là đặc điểm chung về nhịp điệu của hát ru. Nó vừa có tác dụng đưa em bé vào giấc ngủ, vừa là nhịp để ngư­ời mẹ có thể tự sự, giãi bày. Điều đặc biệt ở bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là nhịp thơ phù hợp với nhịp hát ru, lại phù hợp với nhịp của những công việc mà người mẹ Tà-ôi làm, đ­ược cảm nhận từ chính em bé trên lư­ng mẹ. Trong địu trên lư­ng mẹ, bé và mẹ hai mà là một.

Mở đầu mỗi khúc ru là lời dỗ dành ngọt ngào :

Em cu Tai ngủ trên l­ưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

Ba lần lời dỗ dành ấy cất lên trong ba hoàn cảnh khác nhau. Lần đầu là khi mẹ đang giã gạo :

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi

Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời :

Lần thứ hai là khi mẹ đang tỉa bắp :

Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi

Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ

Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng

Lần thứ ba là khi mẹ đang chuyển lán :

Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng

Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối

Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông

Mẹ địu em đi để giành trận cuối

Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường

Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn

Những câu thơ cho ta thấy hình ảnh một người mẹ chịu thương chịu khó, yêu thương con hết mực và hết lòng với kháng chiến. Con nằm trên lưng mẹ mà có khác gì con đang nằm trong bụng mẹ. Mẹ giã gạo, nhịp chày là nhịp ru con. Mẹ tỉa bắp, nhịp tỉa bắp là nhịp đư­a con vào giấc ngủ. Mẹ đạp rừng chuyển lán, con chẳng rời mẹ, để con bình yên trong nhịp chân của mẹ. Ngư­ời mẹ Tà-ôi địu con trên lưng mà giã gạo nuôi bộ đội, tỉa bắp trên núi, đạp rừng chuyển lán. Cả bài thơ chỉ có một vài hình ảnh gợi tả hình dáng ngư­ời mẹ (Vai mẹ gầy... , ... lưng mẹ thì nhỏ). Như­ng tình cảm của ngư­ời mẹ, lòng thư­ơng yêu con, những việc làm của mẹ cho con, cho kháng chiến lại đ­ợc thể hiện sinh động, rõ nét. Cho nên ngư­ời đọc vẫn thấy chân dung người mẹ hiện ra cụ thể, chân thật. Chân dung tinh thần ấy càng trở nên đẹp đẽ, giàu sức lay động trong những lời ng­ời mẹ hát lên, tiếng hát tha thiết từ trái tim. Mặt trời, ánh sáng, những cái mà cây không thể thiếu, là phía hoa lá hướng về thì nằm trên đồiMặt trời, niềm tin và hi vọng của mẹ, là bé đang nằm trên lưng. Hình ảnh ẩn dụ (Mặt trời của mẹ) đã diễn tả sâu sắc ý nghĩa của con trong sự sống của mẹ. Ước mơ, khát vọng của mẹ hướng cả về con. Trong lời ru, mẹ giãi bày, thổ lộ ước mơ, khát vọng ấy :

- Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ th­ương a-kay, mẹ thư­ơng bộ đội

Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần

Mai sau con lớn vung chày lún sân...

- Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói

Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều

Mai sau con lớn phát m­ời Ka-lưi...

- Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất n­ớc

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ

Mai sau con lớn làm người Tự do...

Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, lời ru của người mẹ gửi gắm những ư­ớc mơ khác nhau. Song tất cả đều là ­ước vọng về con trong tư­ơng lai. Mẹ giã gạo, lời ru nhắn nhủ con hãy chắp ­ước mơ của mẹ cho "gạo trắng ngần", ước mơ mai sau con trưởng thành với sức vóc "vung chày lún sân". Mẹ tỉa bắp trên núi, lời ru nhắn nhủ con hãy chắp ước mơ của mẹ cho "hạt bắp lên đều", mong ước mai sau con lớn có đư­ợc sức mạnh có thể "phát m­ười Ka-lưi". Và trong khúc ru cuối bài thơ, là ư­ớc vọng của ngư­ời mẹ về ý chí, niềm tin vào tương lai chiến thắng, là mong mỏi con sẽ chắp ước mơ được thấy Bác Hồ của mẹ, khao khát Tự do cho đất nước, Tự do của mẹ, Tự do cho con.

 Câu hát mỗi lúc một bay cao hơn, ước mơ của người mẹ mỗi lúc một lớn hơn, vư­ơn tới những điều đẹp đẽ, cao cả hơn, và niềm tin vững chắc, hi vọng vào t­ương lai cũng theo đó mà bay bổng, mang dáng vóc của anh hùng ca :

Mai sau con lớn vung chày lún sân

Mai sau con lớn phát mười Ka-lư­i

Mai sau con lớn làm người tự do.

3. Trong sức mạnh "xẻ dọc Trường Sơn" năm xư­a, bư­ớc chân nào là bư­ớc chân của người mẹ Tà-ôi ?! Sức mạnh thần kì ấy bắt nguồn từ những nhọc nhằn, gian khó, từ những ước mơ của các mẹ đấy thôi ! Đất n­ước hài hoà nồng thắm, các mẹ lại hát ru muôn đời.

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

1. Dân tộc ta có những truyền thống cao quí mà nổi bật là truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm. Truyền thống ấy được phát huy từ tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, từ thành thị đến nông thôn, từ miền đồng bằng cho đến vùng rừng núi.

Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện truyền thống ấy một cách đặc sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy. Những lời người mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nước cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung.

2. Cách đọc:

- Đọc kĩ bài thơ và phần chú thích trong sách giáo khoa.

- Đọc diễn cảm cả bài thơ, chú ý cách ngắt nhịp trong các câu thơ để diễn tả tình cảm yêu thương tha thiết của người mẹ Tà-ôi với con và với cách mạng thể hiện qua lời ru dịu dàng, đằm thắm.

 

Câu trả lời:

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng đ­ược một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút ng­ười đọc. Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh ch­a đầy một tuổi. Từ đó hai ba con ch­ưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như­ trong bức ảnh chụp ngày c­ới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe đư­ợc tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây l­ược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc l­ược bằng ngà cho con gái. Chiếc l­ược đã làm xong như­ng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

2. Những sự việc chính của câu chuyện trong đoạn trích là như vậy. Nhưng độ căng và tính bất ngờ của nó chỉ đư­ợc đẩy lên đỉnh điểm khi trong từng sự việc tác giả đã miêu tả những diễn biến tâm lí của nhân vật một cách tinh tế, sinh động. Tình cha con sâu nặng bộc lộ trong những tình huống éo le, ngặt nghèo của bom đạn chiến tranh. Bản thân cốt truyện của đoạn trích Chiếc l­ược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh. Và thật đau xót, ng­ời cha ch­ưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như­ lời hứa thì chiến tranh đã c­ướp đi sinh mạng anh. Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con ngư­ời, là nhân vật.

3. Tác giả đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc xây dựng nhân vật một bé gái tám tuổi bư­ớng bỉnh và gan góc. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một ngư­ời ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày c­ưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ba, không gọi ba vì thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn ngư­ời cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má. Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Chi tiết gọi "trổng" và chi tiết chắt n­ước cơm đã khắc hoạ nổi bật sự đáo để hồn nhiên của bé Thu. Đặc biệt là chi tiết bé Thu hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, t­ưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nh­ưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bư­ớc ra khỏi mâm.". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, như­ng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu. Nhưng lẽ nào ở bé Thu chỉ là sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến đáo để? Không hề giản đơn như­ vậy, trong buổi sáng cha nó lên đường:

"Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi ng­ời đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không b­ướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và nhưhông bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa."

 Cho đến khi nghe tiếng kêu thét lên: "- Ba.. a... a...ba!" thì mọi ng­ười mới vỡ lẽ ra rằng nó thèm được gọi ba nh­ thế nào, "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như­ vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh nh­ một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát đ­ợc có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như­ xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, th­ơng yêu con vô hạn của ngư­ời cha.

4. Người đọc sẽ nhớ mãi hình ảnh một người cha, ng­ời cán bộ cách mạng xúc động dang hai tay chờ đón đứa con gái bé bỏng duy nhất của mình ùa vào lòng sau tám năm xa cách. Mong mỏi ngày trở về, nóng lòng đ­ược nhìn thấy con, đ­ược nghe tiếng gọi "ba" thân thư­ơng từ con, anh Sáu thực sự bị rơi vào sự hụt hẫng: "anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng th­ương và hai tay buông xuống nh­ư bị gãy". Mong mỏi bao nhiêu thì đau đớn bấy nhiêu. Anh cũng không ngờ rằng chính bom đạn chiến tranh vừa là nguyên nhân gián tiếp, vừa là nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau đớn ấy. Tám năm xa vợ xa con, ở nhà đ­ợc ba ngày rồi lại lên đường, và ra đi mãi... Ba ngày anh đư­ợc ở nhà anh chẳng đi đâu xa, để đư­ợc gần gũi, vỗ về bù đắp những ngày xa con. Lòng người cha ấy đau đớn biết như­ờng nào khi đứa con là máu mủ của mình gọi mình bằng "ng­ười ta": "Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cư­ời. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc đ­ược, nên anh phải c­ười vậy thôi.". Cử chỉ gắp từng miếng trứng cá cho con cho thấy anh Sáu là ng­ời sống tình cảm, sẵn sàng dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất. Và chao ôi là hình ảnh hai đôi mắt của hai cha con trong thời khắc chia xa: "Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao". Ngư­ời cha ấy sẽ ra đi khi chư­a đ­ược gọi bằng "ba" lấy một lần. Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ về nữa, anh mới thực sự đ­ược làm cha. Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh không thể xem là nhỏ của ng­ời chiến sĩ cách mạng. Dầu sau này anh Sáu có hi sinh cả tính mạng của mình.

5. Câu chuyện đ­ược kể từ ngôi thứ nhất, ng­ười kể chuyện x­ưng "tôi" có mặt và chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa cha con anh Sáu. Đoạn trích bắt đầu với hình ảnh chiếc lược ngà, khép lại cũng với hình ảnh chiếc l­ược ngà. Ngư­ời kể chuyện kể lại câu chuyện cảm động đã xảy ra, khi anh còn ch­ưa thực hiện đ­ợc ý nguyện cuối cùng của anh Sáu trư­ớc lúc hi sinh: trao lại tận tay con gái kỉ vật của ng­ười cha. Ngư­ời cha ấy đã vui mừng "hớn hở như­ trẻ được quà" khi kiếm đ­ược khúc ngà để làm l­ược tặng con gái như­ lời hứa lúc ra đi. Anh "cưa từng chiếc răng l­ược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như­ người thợ bạc.[...] anh gò lư­ng, tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba"". Nơi rừng sâu, tất cả nỗi nhớ, tình thương yêu con của anh dồn cả vào công việc ấy, chiếc l­ược ấy. Ng­ười cha nâng niu chiếc lược ngà, ngắm nghía nó, mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm m­ượt, "Cây l­ược ngà ấy ch­ưa chải đ­ược mái tóc của con, nh­ưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh". Chiếc l­ược ngà như là biểu tượng của tình thư­ơng yêu, săn sóc của ng­ười cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chư­a một lần đư­ợc chải tóc cho con. Ngư­ời kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện. Có lẽ, không ai hiểu nhau hơn những ngư­ời đồng đội, gần nhau hơn những ng­ười đồng đội. Cho nên, sau này, khi trao tận tay Thu chiếc l­ược, giữa thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm giống như­ tình cha con.

6. Đoạn trích Chiếc lư­ợc ngà đã đạt đư­ợc giá trị sâu sắc cả về nội dung và hình thức biểu đạt. Hình tượng chiếc l­ợc ngà và câu chuyện giữa hai cha con ngư­ời cán bộ cách mạng sẽ còn gây được xúc động lâu bền trong lòng ng­ười đọc.

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

 

Đọc bài văn, chú ý giọng đối thoại, việc lựa chọn nhân vật kể thích hợp: người kể chuyện trong vai một ngời bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia se với các nhân vật;  cảm nhận được tình cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le thông qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên của tác giả.

Câu trả lời:

Đề bài: Soạn bài ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
I.    Tìm hiểu chung
1.    Tác giả
a.    Cuộc đời

–    Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937
–    Ông sinh ra tại Huế vì thế ông gắn bó sâu sắc với Huế
–    Là người có hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực đặc biệt nhất là sử học, địa lý văn hóa ở Huế
b.    Sự nghiệp
–    Ông viết rất nhiều tác phẩm: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, rất nhiều ánh lửa, ai đã đặt tên cho dòng sông…
–    Phong cách nghệ thuật: Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình với những liên tưởng mạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm tài hoa
2.    Tác phẩm
a.    Hoàn cảnh sáng tác

–    Tác phẩm là bài kí xuất sắc của Hoàng Phủ ngọc Tường được viết tại Huế, vào ngày 4-1-1981, sau đó in trong tập sách cùng tên
b.    Bố cục: 3 phần
–    Đoạn trích nằm ở phần 1, và tóm tắt phần 2,3
–    Bố cục đoạn trích: 2 phần
•    Phần 1; từ đầu đến quê hương xử sở: thủy trình của sông Hương
•    Phần 2: còn lại: dòng sông của lịch sử thơ ca
II.    Phân tích
1.    Thủy trình của Hương Giang
a.    Sông Hương ở vùng thượng lưu

–    Sông Hương nằm vùng thượng lưu mang một vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt như bản trường ca của rừng già, hoang dại bí ẩn nhưng cũng có lúc dịu dàng đằm thắm
•    Sông Hương như bản trường ca của rừng già
•    Vẻ đẹp dịu dàng say đắm với những sắc màu rực rỡ
->    Nghệ thuật so sánh kết hợp với những câu văn dài, thủ pháp điệp cấu trúc kết hợp với động từ mạnh tạo nên âm hưởng mạnh mẽ
•    Vẻ hoang dại : sông  Hương giống như một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại
•    Sông Hương như một bà mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở
->    Ngay từ đầu bài văn tác giả đã như khoe ra cái bút pháp tài hoa của mình.nhà văn tạo ra những liên tưởng lý thú xác đáng, ngôn từ gợi cảm. Tất cả tạo nên sự hấp dẫn về một con sông mang linh hồn của sự sống
b.    Sông hương ở ngoại vi thành phố Huế
–    Dưới ngòi bút của HPNT sông Hương như một cô gái đẹp nằm mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, nàng ngủ mơ màng mong người tình đến đánh thức
•    Với kiến thức địa lý tác giả đã miêu tả tỉ mỉ về sông Hương chuyển dòng một cách liên tục uốn mình với những đường cong thật mềm mại
•    Sông nước sông Hương thay đổi theo ngày: sớm xanh trưa vàng chiều tím
•    Hình dáng như tấm lụa mềm mại trên cơ thể người thiếu nữ
->    Sông Hương hiện lên nét trầm mặc cổ kính như triết lý cổ thi. Vận dụng kiến thức về văn hóa văn học tác giả đã tạo cho người đọc vẻ đẹp trầm mặc như triết lý cổ thi “Đi giữa sông Hương cũng chuyển mình ngày đêm bên những lăng tẩm, thành quách của vua chúa thời Nguyễn. Con sống hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế như nép mình bên giấc ngủ nghìn thu của vua chúa

soan bai ai da dat ten cho dong song cua hoang phu ngoc tuong

c.    Sông Hương chảy vào thành phố Huế
–    Cuối cùng sông Hương đã đến được với thành phố của mình, con sông mang một vẻ đẹp độc đáo
–    Sông Hương như một điệu slow tình cảm của Huế
–    Lưu tốc của con sông khác hẳn với dòng sông khác. Phải chăng vì quá yêu thành phố của mình, con sông Hương muốn nhìn ngắm thành phố của mình lâu hơn trước khi rời xa nó. Đó là tình cảm của dòng sông hương với Huế hay chính la tình cảm đăc biệt mà HPNT dành cho sông Hương và xứ huế
–    Sông Hương như người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya. Viết về sông Hương giữa lòng thành phố Huế tác giả không quên những nét đẹp văn hóa gắn liền với dòng sông thơ mộng. ở góc độ âm nhạc tác giả gọi sông Hương là người tài nữ đánh đàn
–    Sông Hương được ví như người tình dịu dàng và thủy chung
2.    Dòng sông của lịch sử, thơ ca, cuộc đời
–    Lịch sử: sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc
–    Cuộc đời: sông Hương mang vẻ đẹp dịu dàng, giản dị của một cô gái
–    Thi ca: trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà thơ nhà văn
3.    Nhan đề 
–    Bài kí kết thúc bằng cách lý giải về tên của dòng sông qua một câu hỏi đầy trăn trở. Nhà văn đã chọn một cách lý giải ấn tượng đầy chất trữ tình bằng một huyền thoại
–    Mượn huyền thoại này để giải thích câu hỏi của nhan đề. Qua đó nhà văn muốn khẳng định phẩm chất đẹp đẽ của sông Hương
III.    Tổng kết
–    Bài kí là kết tinh vẻ đẹp của dòng sông Hương, nó vừa mang vẻ mãnh liệt dữ dội lại vừa mang vẻ đàm thắm kiêu sa, mơ màng như một người con gái đẹp.
–    Nhà văn hấp dẫn người đọc bằng bút pháp tài hoa trữ tình của mình. có thể nói nhà văn đã tạo nên một trang văn đẹp về dòng sông Hương

Câu trả lời:

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Vương Duy (701 - 761) tự là Ma Cật, quê ở đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Suốt đời làm quan nhưng ông thường sống ẩn dật. Sùng tín đạo Phật, thơ ông mang đậm ý vị Thiền. Cho nên, ông còn được mệnh danh là "thi Phật".

2. Với hơn 400 bài hiện còn lại, thơ Vương Duy mang phong cách trang nhã và bình đạm. Thơ ông cũng gần gũi với mọi người bởi nó là những bức tranh đẹp của thiên nhiên.

3. Bài thơ Điểu minh giản là một tác phẩm tiêu biểu của Vương Duy. Nó thể hiện sự bình yên của tâm hồn trong khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Cây quế cành là sum suê nhưng hoa thì rất nhỏ. Nhưng nhà thơ lại cảm nhận được cả “hoa quế rụng”. Chi tiết ấy cho thấy không gian của buổi đêm vô cùng yên tĩnh. Đồng thời nó cũng cho thấy sự tinh tế, bình yêu, tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân.

2. Mối quan hệ giữa cái động và tĩnh trong bài thơ :

Hoa quế rất nhỏ vậy mà vẫn nghe  tiếng rụng. Trăng lên không tiếng mà lại làm cho “chim núi giật mình”. Tất cả là vì đêm rất lặng và tâm hồn con người cũng lặng. Cái tĩnh của đêm ở đây lại được cảm nhận qua cái động của những âm thanh khẽ khàng. Sau vài tiếng kêu thưa thớt của “sơn điểu” đêm  lại càng tĩnh lặng. Cái tĩnh lặng của đêm và của lòng người.

3. Có thể lột tả bài thơ bằng một câu như sau :

Trong Điểu minh giản, Vương Duy đã lấy cái động khẽ khàng của đêm để thể hiện cái tĩnh lặng trong trẻo của tâm hồn con người.

Câu trả lời:

Đề bài:  Soạn bài nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh văn 10
I.    tìm hiểu chung
1.    tác giả

-    Vương Xương Linh (608 – 756), tự là Chiếu Bá.
–    Quê ở Thiểm Tây trung Quốc.
–    Ông nổi tiếng là một nhà thơ thiên về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ông không những sử dụng thành thạo thể thơ này trong những sáng tác của mình mà ông còn đạt được nhiều thành công đối với nó.
–    Ông để lại 180 bài thơ và một số tập văn.
–    Nội dung thơ ông phong phú: có những bài thơ nói về tình cảm bạn bè trong sáng, khi lại là khúc oán của người cung nữ, đề cập đến cuộc sống của những người lính biên cương.
–    Phong cách thơ: trong trẻo tinh tế.

2.    Tác phẩm

a.    Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt.
b.    Bố cục: 2 phần.
–    Phần 1: hai câu thơ đầu: thể hiện được cô gái phòng khuê vẫn còn vô tư trong sáng.
–    Phần 2: cô gái nhận ra hối hận đã để chồng đi kiếm tước hầu.
c.    Nhan đề: nỗi oán là nỗi oán hận, day dứt trong lòng, người phòng khuê là chỉ những cô gái có chồng đi lính xa xôi.
->    Nhan đề có nghĩa là nỗi oán hận, hối hận của người con gái khi để chồng đi lính kiếm tước hầu.


II.    Phân tích
1.    Cô gái phòng khuê vẫn trong sáng vô tư không biết sầu.

–    Chồng đi lính kiếm tước hầu nhưng cô gái chẳng biết sầu là gì hoạt động hằng ngày của cô vẫn diễn ra bình thường như khi chồng còn ở nhà vậy.
–    Cô vẫn không biết sầu là gì mặc dù thiếu bóng người chồng.
–    Cô vẫn hàng ngày trang điểm má phấn hồng son dạo lên lầu.
->    Đây quả là một cô gái vô tư không lo nghĩ gì nhiều, cô vẫn còn rất trẻ và suy nghĩ còn chưa được trưởng thành. Cô hãy còn vui vẻ nhưng chỉ là vui vẻ một mình.

 

soan bai noi oan nguoi khue phong

soan bai noi oan nguoi khue phong

2.    Sự hối hận của cô gái

-    Đây quả là một bước chuyển biến tâm trạng rõ rệt của cô gái ấy.
–    Cô trang điểm bước lên lầu nhưng để ai ngắm cô kia chứ, bỗng chốc cô nhận ra việc cô để chông đi kiếm hầu tước là sai.
–    Cô nhìn thấy ngọn liễu xanh kia thì chợt nghĩ đến bản thân mình, khi này cô vẫn còn trẻ tươi xanh như thế kia, đẹp như thế kia.
–    Thế nhưng cô nhận ra để người chồng đi lính là đẩy chồng mình vào biết bao nhiêu khó khăn gian khổ thậm chí nó còn đánh đổi cả tính mạng để lấy được hầu tước.
–    Lỡ như có chuyện gì xảy ra thì nàng trẻ như liễu xanh mà không có ai để ngắm, không có ai khen ngợi vẻ đẹp của nàng, thậm chí nàng còn trở thành một người góa bụa.

->    Chính vì lí do ấy mà cô gái vô tư bỗng chốc trở thành một cô gái biết sầu, hối hận khi cho chồng đi lính.

III.    Tổng kết

-    Nội dung: bài thơ thể hiện được sự chuyển biến trong tâm trạng của một cô gái có chồng đi lính kiếm hầu tước. Cô oán hận chiến tranh khiến chồng cô phải đi lính, cô càng oán hận khi bản thân mình quá vô tư không nghĩ xa mà lại để chồng đi lính.
–    Nghệ thuật: tả tình tinh tế, ngắn gọn, hàm súc.

Câu trả lời:

Đề bài: Soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam văn lớp 11
I.    tìm hiểu chung
1.    tác giả

–    Thạch Lam ( 1910 – 1942)
–    Ông là một trong những nhà văn nổi tiếng của nhóm tự lực văn đoàn
–    Là em trai của nhà văn Nhất Linh và Hoàng Đạo
–    Ông sinh ra tại mảnh đất Hải Dương
–    Ông có một tuổi thơ nghèo trên mảnh đất Cẩm Giang,lúc thì theo mẹ ra Hà Nội
–    Lớn lên ông đỗ tú tài và ông ra làm báo tham gia vào nhóm tự lực văn đoàn của các anh
–    Tuy nhiên hoạt động được chẳng bao lâu thi ông mất khi tuổi đời còn quá trẻ
–    Sự nghiệp sáng tác:
•    Các tác phẩm tiêu biểu: nắng trong vườn, gió đầu mùa, ngày mới, Hà Nội băm sáu phố phường, theo giòng
•    Phong cách nghệ thuật: tác phẩm của ông là những tác phẩm không có cốt truyện hoặc thường là những cốt truyện nhẹ nhàng, không mang đến những tình huống kịch tính thế nhưng nó vẫn hấp dẫn người đọc bởi sự nhẹ nhàng và êm ái giống như những bài thơ trữ tình đượm buồn

2.    Tác phẩm

a.    Hoàn cảnh sáng tác: nhà văn đã có những ngày tháng sống tại phố huyện Cẩm giàng vốn là người nhạy cảm nhà văn nhận thấy đông cảm và thương xót với cuộc sống của người dân nơi đây và đã sáng tác nên truyện ngắn này
b.    Xuất xứ: truyện ngắn được in trong tập nắng trong vườn (1938)
c.    Bố cục: 3 phần:
–    Phần 1: từ đầu đến cười khanh khách: cảnh phố huyện lúc chiều xuống
–    Phần 2: tiếp đến cảm giác mơ hồ không hiểu nổi: cảnh phố huyện về đêm
–    Phần 3: còn lại: cảnh chuyền tàu đêm đi qua phố huyện

II.    Đọc hiểu chi tiết
1.    Bức tranh phố huyện nghèo lúc chiều xuống
a.    Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn

–    Thiên nhiên:
•    Hình ảnh: phương Tây đỏ rực như lửa cháy, những lũy tre cắt hình trên bầu trời rõ rệt
•    Âm thanh: tiếng trống thu không trên cái chòi huyện nghèo, tiếng muỗi vo ve, tiếng ếch nhái kêu râm ran ngoài đồng
•    Màu sắc: màu đỏ của mặt trời xuống, màu đen của lũy tre in hình trên bầu trời
•    Đường nét: mập mờ trong ánh chiều chạng vạng
•    Ánh sáng: ánh đèn lóe ra ngoài khiến cho đá trên đường một bên sáng một bên tối
->    “chiều, chiều rồi một buổi chiều nhẹ như ru và thoảng qua gió mát”. Hình ảnh âm thanh ấy gợi lên cảnh chiều tàn tạ đang buông xuống. Cảnh phố huyện hiện lên tàn tạ mang sự héo úa rơi rụng của chiều tàn. Tuy nhiên ta vẫn thấy ở đó một bức họa đồng quê vô cùng giản dị mộc mạc và chân quê. Nhưng nó mang một nỗi buồn man mác của sự úa tàn. Phố huyện giống như một miền đời bị lãng quên nơi bùn lầy nước đọng
–    Con người
•    Liên và An: chuẩn bị mở quán bán tối, hai chị em lặng ngắm buổi chiều, không hiểu sao Liên thấy lòng mình man mác buồn -> nhạy cảm với cảnh sống nơi đây

b.    Chợ tàn:

–    Cảnh tượng:
•     chợ tàn và trên đất chỉ còn những rác rưởi vỏ bưởi vỏ thị, mấy cô bán hàng còn đứng lại nói chuyện thêm một chút rồi mới về -> gợi nhịp sống thường ngày
•    Một mùi âm ẩm bốc lên như mùi của đất quê hương này vậy
–    Con người: 
•    mấy đứa trẻ nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những thanh củi thanh tre những gì còn có thể dùng được. 
•    Bà cụ Thi Điên thì lảo đảo bước ra mua rượu rồi lại lảo đảo đi vào bóng tối
•    Mẹ con chí Tý bắt đầu dọn hàng
->    Cảnh tượng tàn tạ kết thúc một ngày, những con người bắt đầu xuất hiện làm những công việc quen thuộc hàng ngày. Bằng giọng văn nhẹ nhàng êm ái nhà văn đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên và bức tranh con người nơi phố huyện nghèo

2.    Cảnh phố huyện khi đêm đến:
a.    Thiên nhiên:

–    Nhà văn bắt đầu bằng một câu văn êm ả: “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngơ con dần dần chứa đầy bóng tối.”
–    Những con phố đã ngập tràn trong bóng tối nhà văn sử dụng nghệ thuật đối lấp lấy ánh sáng để tả bóng tối nhằm lột tả hết sự tối tăm của miền đời tù đọng nơi đây:
–    Ánh sáng:
•    Khe sáng, hột sáng, quầng sáng…
–    Bóng tối chỉ được khái quát bằng câu tối hết cả con đường từ nhà ra sông đã thể hiện được cái bóng tối của phố huyện
b.    Con người:
–    Mẹ con chị Tý bắt đầu dọn hàng, dọn thì cứ dọn đấy nhưng chắc gì đã có ai vào uống nước
–    Gia đình nhà bác Xẩm: thằng con trai thì nằm bò ra đất nghịch đất cát, bác chưa hát vì chưa có ai nghe, thỉnh thoảng góp vào bầu trời tối bằng những nốt nhạc bần bật 
–    Bác Siêu: bác Siêu bán phở mà ở nơi đây thì phở của bác là một món quà xa xỉ
–    Chị em Liên cũng mở quán để giúp mẹ kiếm thêm được đồng nào hay đông ấy
->    Tần ấy con người chường mình ra để kiếm sống, trong một sân khấu họ không có lấy một khuôn mặt, họ có thể đổi vai cho nhau được nhưng không ai đổi phận cho ai được. Họ vẫn cầm cự để sống chứ không phải đang sống, họ vẫn mong đợi một điều gì tươi sáng đến với họ -> nhà văn đã hướng nhân vật mình về tương lai

3.    Cảnh chuyến tàu đêm đến

–    Đối với những người phố huyện thì chuyến tàu đêm là niềm hi vọng để có thể kiếm thêm vài hào nước, hào phở
–    Đối với chị em Liên nó mang lại những kí ức xa xăm về một hà Nội nhiều ánh đèn và những que kem xanh đỏ
–    Cảnh tàu đến:
•    Tàu mang lại ánh sáng ở những khoang hạng sang lấp lánh ánh đèn
•    Mang lại sự huyên náo những tiếng người cười nói
•    Mang lại hi vọng cho những con người nơi phố huyện
–    Tàu đi:
•    Để lại sự nuối tiếc cho những con người nơi phố huyện
->    Chuyến tàu đêm thể hiện một niềm mơ ước về một tương lai tươi sáng của chừng ấy con người nơi phố huyện

III.    Tổng kết

–    Nội dung: bằng cốt truyện nhẹ nhàng mà sâu lắng nhà văn đã thổi một làn gió mộc mạc chân quê, một làn gió xưa man mác vào lòng người đọc về những kiếp người sống trong miền đời bị trôi lãng
–    Nghệ thuật: giọng văn nhẹ nhàng, cách kể chuyện hấp dẫn, bút pháp lãng mạn và hiện thực, miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc -> truyện ngắn giống như một bài thơ đượm buồn