HOC24
Lớp học
Môn học
Chủ đề / Chương
Bài học
Hỗn hợp X gồm 1 axit cacboxylic 2 chức , no , mạch hở ; 2 ancol no đơn chức kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng và 1 dieste tạo bởi axit và 2 ancol đó. Đốt cháy hoàn toàn 4,84g X thu được 7,26g CO2 và 2,70g H2O . Mặt khác , đun nóng 4,84g X trên với 80 ml dung dịch NaOH 1M , sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thêm vừa đủ 10 ml dung dịch HCl 1M để trung hòa lượng NaOH dư thu được dung dịch Y. Cô cạn dung dịch Y thu được m gam muối khan, đồng thời thu được 896 ml hỗn hợp ancol (dktc) có tỷ khối hơi so với H2 là 19,5. Giá trị của m là :
A. 4,595
B. 5,765
C. 5,180
D. 4,995
Phần mềm ứng dụng là một loại chương trình có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một công việc nào đó người dùng muốn thực hiện. Điều này khác với phần mềm hệ thống tích hợp các chức năng của máy tính, nhưng có thể không trực tiếp thực hiện một tác vụ nào có ích cho người dùng. Sự phân biệt rõ ràng giữa phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng không rõ ràng. Tuy nhiên, đôi khi vấn đề này cũng được tranh cãi. Thí dụ trường hợp Bộ Tư pháp Mỹ và Microsoft tranh cãi Internet Explorer có phải là một phần của Windows không. Thí dụ tiêu biểu cho phần mềm ứng dụng là chương trình xử lý văn bản, bảng tính, chương trình giải trí. Các phần mềm ứng dụng thường được gom lại thành bộ phần mềm. Microsoft Office và OpenOffice.org là những bộ phần mềm gồm có chương trình xử lý văn bản, bảng tính và các phần mềm khác. Các phần mềm riêng biệt trong bộ phần mềm thường có giao diện và tính năng tương tự làm người dùng dễ dàng học và sử dụng. Và các phần mềm thường tương tác được với nhau để đem lại lợi ích cho người dùng. Thí dụ, phần mềm bảng tính có thể nhúng một phần văn bản vào. Trong một số hệ thống nhúng, người dùng không biết được phần mềm ứng dụng trong hệ thống, như các phần mềm điều khiển DVD, VCD, máy giặt hay lò vi sóng. Phần mềm văn phòng Phần mềm xử lý văn bản Phần mềm bảng tính Phần mềm trình diễn Phần mềm cơ sở dữ liệu Phần mềm quản lý tài liệu Phần mềm soạn thảo [sửa] Phần mềm liên lạc trung gian Phần mềm Trình duyệt e-maill Phần mềm Trình duyệt web [sửa] Multimedia Phần mềm giải trí Phần mềm đồ ha Phần mềm xuất bản [sửa] Phần mềm phân tích [sửa] Phần mềm giao tiếp Phần mềm quản lý nghiệp vụ Blog [sửa] Phần mềm nghiệp vụ Phần mềm kế toán Phần mềm phân tích nghiệp vụ Phần mềm quản lý khách hàng [sửa] Phần mềm cơ sở dữ liệu Phần mềm DBM Phần mềm hệ thống là phần mềm giúp đỡ hệ thống máy tính hoạt động. Nhiệm vụ chính của phần mềm hệ thống là tích hợp, điều khiển và quản lý các phần cứng riêng biệt của hệ thống máy tính. Phần mềm hệ thống khác với phần mềm ứng dụng là nó không trực tiếp giúp đỡ người dùng. * Phần mềm hệ thống thực hiện các chức năng như chuyển dữ liệu từ bộ nhớ vào đĩa, xuất văn bản ra màn hình. Các phần mềm hệ thống đặc biệt: hệ điều hành, chương trình điều khiển thiết bị hay Trình Vận Hành'(driver), công cụ lập trình, chương trình dịch, chương trình dịch cấp thấp (tiếng Anh: assembler), chương trình kết nối (tiếng Anh: linker), và chương trình tiện ích. * Thư viện phần mềm cung cấp các chức năng tổng quát cũng được xem là phần mềm hệ thống, như thư viện chuẩn C. Còn các thư viện khác như OpenGL hay cơ sở dữ liệu ít được xem như vậy. * Phần mềm hệ thống được lưu trên các loại bộ nhớ không thay đổi được, như ghi lên chip, được gọi là phần sụn
2/ các cây lấy gỗ hay sợi thì cần sản phẩm là thân cao và dài, ko ngắt đỉnh để tập chung lượng auxin lớn và ngọn giúp cây tăng nhanh về chiều cao ở phần thân chính được sử dụng, còn phần chồi bên bị ức chế phát triển, nguồn dinh dưỡng sẽ được tập chung vào phần ngọn và cho ta sản phẩm với năng suất cao _Nếu bạn học lớp dưới thì có thể giải thik ngắn gọn như sau : 1/ các cây như bông, đậu, cà phê thì sản phẩm đc con người sử dụng là quả, do vậy cần có biện pháp làm tăng số lượng cành => tăng số lượng hoa và quả. Do vậy ngắt ngọn sẽ giúp cây phát triển ra nhiều nhánh nhỏ hơn từ đó cho nhiều hoa và quả 2/Các cây lấy gỗ, lấy sợi để có năng suất cao cần phải tăng chiều cao thân. Do vậy ngắt bỏ chồi bên sẽ tập chung được dinh dưỡng nuôi thân tăng nhanh về chiều cao => đem lại hiệu quả kinh tế
1. Kinh tuyến là một nửa vòng tròn trên bề mặt Trái Đất, nối liền hai Địa cực, có độ dài khoảng 20.000 km, chỉ hướng bắc-nam và cắt thẳng góc với đường xích đạo. Vĩ tuyến là một vòng tròn tưởng tượng nối tất cả các điểm có cùng vĩ độ. Trên Trái Đất, vòng tròn này có hướng từ đông sang tây. Vị trí trên vĩ tuyến được xác định bằng kinh độ. Một vĩ tuyến luôn vuông góc với một kinh tuyến tại giao điểm giữa chúng. Các vĩ tuyến ở gần cực Trái Đất có đường kính nhỏ hơn.
2. Bản đồ nào cũng có ghi tỉ lệ ở phía dưới hay ở góc bản đồ. Dựa vào tỉ lệ bản đồ chúng ta có thể biết được các khoảng cách trên bản đồ đã thu nhỏ bao nhiêu lần so với kích thước thực của chúng trên thực địa.
Tỉ lệ bản đồ được biểu hiện ở hai dạng:
- Tì lệ số : là một phân số luôn có tử số là 1. Mẫu số càng lớn thì tỉ lệ càng nhỏ và ngược lại. Ví dụ : tỉ lệ 1:100.000 có nghĩa là 1 cm trên bản đồ bằng 100.000 cm hay 1 km trên thực địa.
- Tỉ lệ thuớc : tỉ lệ được vẽ cụ thể dưới dạng một thước đo đã tĩnh sẵn. mỗi đoạn đều ghi số đo độ dài tương ứng trên thực địa. Ví dụ : mỗi đoạn 1 cm bằng 1 km hoặc bằng 10 km v.v...
Ti lệ bản đồ có liên quan đến mức độ thể hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ. Ti lệ càng lớn thi mức độ chi tiết của bản đồ càng cao.
Trái Đất đứng vị trí thứ 3 theo thứ tự xa dần Mặt Trời
Hình dạng:
+ Trái Đất có dạng hình cầu
Kích thước:
+ Kích thước to:
Bán kính: 6370km
Xích đạo: 40076km
0