Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Khánh Hòa , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 264
Điểm GP 42
Điểm SP 144

Người theo dõi (1)

Hà Linh

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nước ta rơi vào tay của thực dân Pháp, trong đó có những nguyên nhân lịch sử, chính trị, kinh tế và xã hội. Dưới đây là một số nguyên nhân chính:

Sự suy yếu của triều đình nhà Nguyễn: Sau khi vua Gia Long thành lập triều đình nhà Nguyễn, nước ta đã có một thời kỳ hưng thịnh với sự đổi mới và phát triển trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sau khi các vị hoàng đế kế vị, triều đình nhà Nguyễn đã suy yếu và bị nội loạn, đặc biệt là trong những năm cuối thế kỷ 19.

Chính sách thực dân của Pháp: Pháp đã áp đặt chính sách thực dân đối với nước ta, bao gồm việc chiếm đóng và kiểm soát các khu vực chiến lược, khai thác tài nguyên và buộc người dân Việt Nam phải lao động cho họ. Điều này đã gây ra sự phản đối và kháng chiến của người dân Việt Nam.

Sự chia rẽ và bất đồng trong nội bộ: Trong suốt quá trình kháng chiến chống Pháp, có nhiều cuộc nổi dậy và phong trào kháng chiến khác nhau được tiến hành bởi các nhóm khác nhau. Tuy nhiên, sự chia rẽ và bất đồng trong nội bộ đã làm giảm hiệu quả của phong trào kháng chiến.

Sự can thiệp của các nước khác: Ngoài Pháp, còn có nhiều nước khác cũng muốn can thiệp vào Việt Nam để kiểm soát và khai thác tài nguyên của nước ta. Điều này đã gây ra sự phân chia và mâu thuẫn trong nội bộ, đồng thời làm cho phong trào kháng chiến của người Việt Nam gặp nhiều khó khăn.

Tổng hợp lại, việc nước ta rơi vào tay của thực dân Pháp là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự suy yếu của triều đình nhà Nguyễn, chính sách thực dân của Pháp, sự chia rẽ và bất đồng trong nội bộ, và sự can thiệp của các nước khác.

Câu trả lời:

Để giải bài toán này, ta cần biết phương trình phản ứng giữa oxit sắt (Fe2O3) và khí hidro (H2):

Fe2O3 + 3H2 → 2Fe + 3H2O

Theo đó, mỗi mol Fe2O3 cần 3 mol H2 để khử hoàn toàn thành Fe.

a) Thể tích khí hiđro cần dùng:

Ta cần tìm số mol khí hidro cần dùng để khử hoàn toàn 12,8 gam Fe2O3.Khối lượng mol của Fe2O3 là:

M(Fe2O3) = 2x56 + 3x16 = 160 (g/mol)

Số mol Fe2O3 là:

n(Fe2O3) = m/M = 12.8/160 = 0.08 (mol)

Theo phương trình phản ứng, mỗi mol Fe2O3 cần 3 mol H2 để khử hoàn toàn thành Fe.Vậy số mol H2 cần dùng là:

n(H2) = 3*n(Fe2O3) = 0.24 (mol)

Thể tích khí hidro cần dùng ở đktc là:

V(H2) = n(H2)22.4 = 0.2422.4 = 5.376 (lít)

Vậy thể tích khí hiđro cần dùng ở đktc là 5.376 lít.

b) Khối lượng Fe thu được sau phản ứng:

Theo phương trình phản ứng, mỗi mol Fe2O3 tạo ra 2 mol Fe.Vậy số mol Fe thu được là:

n(Fe) = 2*n(Fe2O3) = 0.16 (mol)

Khối lượng Fe thu được là:

m(Fe) = n(Fe)M(Fe) = 0.1656 = 8.96 (gam)

Vậy khối lượng Fe thu được sau phản ứng là 8.96 gam.

c) Thể tích khí hiđro thu được khi Fe tác dụng với HCl:

Ta cần tìm số mol H2 thu được khi Fe tác dụng với HCl.Theo phương trình phản ứng, mỗi mol Fe tác dụng với 2 mol HCl để tạo ra H2 và muối sắt (FeCl2).Số mol HCl cần dùng để tác dụng với Fe là:

n(HCl) = m(HCl)/M(HCl) = 14.6/36.5 = 0.4 (mol)

Vậy số mol H2 thu được là:

n(H2) = 2n(Fe) = 2(m(Fe)/M(Fe)) = 2*(8.96/56) = 0.16 (mol)

Thể tích khí hiđro thu được ở đktc là:

V(H2) = n(H2)22.4 = 0.1622.4 = 3.584 (lít)

Vậy thể tích khí hiđro thu được ở đktc là 3.584 lít.

 

Câu trả lời:

Để giải bài toán này, ta cần biết các phản ứng hóa học xảy ra giữa sắt (Fe), axit sulfuric (H2SO4), khí hidro (H2) và oxit đồng (CuO).

Phản ứng giữa sắt và axit sulfuric:

Fe + H2SO4 → FeSO4 + H2↑

Theo đó, mỗi mol sắt phản ứng với một mol axit sulfuric sẽ tạo ra một mol khí hidro.

a) Khối lượng sắt đã phản ứng:

Ta biết thể tích khí hidro thu được là 3,7185 lít (ở đktc).Theo định luật Avogadro, cùng thể tích khí ở điều kiện tiêu chuẩn có số mol bằng nhau. Vậy, số mol khí hidro thu được là:

n(H2) = V/22.4 = 3.7185/22.4 ≈ 0.166 mol

Do mỗi mol sắt phản ứng với một mol khí hidro, nên số mol sắt đã phản ứng cũng bằng 0.166 mol.Khối lượng sắt đã phản ứng là:

m(Fe) = n(Fe)M(Fe) = 0.16656 = 9.296 g

Vậy khối lượng sắt đã phản ứng là 9.296 g.

b) Khối lượng muối tạo thành:

Theo phương trình phản ứng, mỗi mol sắt phản ứng với một mol axit sulfuric sẽ tạo ra một mol muối sắt (FeSO4).Vậy số mol muối sắt tạo thành cũng bằng 0.166 mol.Khối lượng muối sắt tạo thành là:

m(FeSO4) = n(FeSO4)M(FeSO4) = 0.166152 = 25.232 g

Vậy khối lượng muối sắt tạo thành là 25.232 g.

c) Lượng khí hidro có thể khử được bao nhiêu gam CuO:

Ta biết rằng khí hidro có tính khử mạnh, có thể khử được oxit đồng (CuO) thành đồng (Cu) và nước (H2O) theo phản ứng:

CuO + H2 → Cu + H2O

Theo đó, mỗi mol khí hidro phản ứng với một mol oxit đồng sẽ tạo ra một mol đồng.Ta cần tìm số mol oxit đồng cần để phản ứng hết với số mol khí hidro thu được.Theo phương trình phản ứng, mỗi mol oxit đồng phản ứng với một mol khí hidro, nên số mol oxit đồng cần tìm là:

n(CuO) = n(H2) = 0.166 mol

Khối lượng oxit đồng cần tìm là:

m(C

Câu trả lời:

Để giải bài toán này, ta sẽ sử dụng định luật Snell-Descartes về khúc xạ ánh sáng khi đi qua mặt phân cách giữa hai môi trường khác nhau. Theo đó, ánh sáng đi từ môi trường có chỉ số khúc xạ ni1, góc tới i1, đi qua mặt phân cách và khúc xạ sang môi trường có chỉ số khúc xạ ni2, góc khúc xạ r2, thì ta có công thức:

ni1sin(i1) = ni2sin(r2)

Trong đó, i1 là góc tới của ánh sáng so với pháp tuyến của mặt phân cách, r2 là góc khúc xạ của ánh sáng so với pháp tuyến của mặt phân cách.

Áp dụng định luật Snell-Descartes vào bài toán này, ta có:

Gọi n là chỉ số khúc xạ của lăng kính tam giác đều ABC. Theo đó, ánh sáng đi từ không khí (chỉ số khúc xạ ni1 = 1) vào trong lăng kính (chỉ số khúc xạ ni2 = n), góc tới của ánh sáng so với mặt phân cách AB là 60 độ (do ánh sáng chiếu qua A và hợp với mặt bên AB tạo thành góc 60 độ), ta có:

1sin(60) = nsin(r2)

Gọi góc ló của ánh sáng khi ra khỏi lăng kính là α, góc lệch của ánh sáng so với phương thẳng đứng là β. Ta có:

α + β = 90 độ

Ánh sáng khi ra khỏi lăng kính sẽ đi tiếp trong không khí (chỉ số khúc xạ ni1 = 1), góc tới so với pháp tuyến của mặt phân cách AB là góc lệch β, góc khúc xạ so với pháp tuyến của mặt phân cách AB là góc ló α. Ta có:

n*sin(α) = sin(β)

Từ hai phương trình trên, ta suy ra:

sin(α) = (1/n)sin(60) và sin(β) = nsin(α) = sin(60)/sin(i2)

Trong đó, i2 là góc tới của ánh sáng so với pháp tuyến của mặt phân cách AB.

Để tính được góc ló và góc lệch, ta cần tìm góc i2. Ta có:

i2 = 180 - 60 - α = 120 - α

Vậy:

sin(i2) = sin(120 - α) = sin(120)*cos(α) - cos(120)*sin(α) = (sqrt(3)/2)*cos(α) - (1/2)*sin(α)