Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 30
Số lượng câu trả lời 699
Điểm GP 3
Điểm SP 116

Người theo dõi (16)

LÃ KHÔI NGUYÊN
Choon_Hee
Tuyen ngoc

Đang theo dõi (74)

Thỏ Bugs
đạt villa =))
Haru Haru

Câu trả lời:

Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du phía Bắc, nằm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây – Đông Bắc của Việt Nam. Phía đông Phú Thọ giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, phía tây giáp Sơn La, phía nam giáp Hòa Bình, phía bắc giáp Yên Bái và Tuyên Quang.

Diện tích rừng cọ của Phú Thọ trong thế kỷ 20 rất lớn, những năm 1960 có tới 10.000 ha. Hiện diện tích cọ bị giảm sút do nhu cầu sử dụng cọ giảm. Nhiều mô hình trồng dặm, trồng xen cây ngắn ngày dưới tán cây cọ dần thay thế những rừng chuyên trồng cọ.

Rừng cọ còn lại hiện tập trung ở một số huyện như Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Đoan Hùng với tổng diện tích hơn 1.000 ha. Có một số đặc sản được chế biến từ cọ, như cọ ỏm hay cơm nắm lá cọ.

Đặc biệt, cơm nắm lá cọ được coi là thức quà chỉ có ở Phú Thọ. Điều này được chứng minh qua câu ca mà người Phú Thọ vẫn truyền tai nhau: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Cơm nắm lá cọ là người sông Thao” (đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ được gọi là sông Thao), hay “Dù ai đi ngược về xuôi/ Cơm nắm lá cọ là người Phù Ninh” (Phù Ninh là một huyện trồng nhiều cọ ở Phú Thọ).

Ngoài Phú Thọ, Thái Nguyên và Tuyên Quang cũng trồng cây cọ nhưng diện tích không nhiều và chỉ tập trung ở một hoặc hai huyện.

Câu trả lời:

Hát Xoan là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của vùng Đất Tổ nói riêng và trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung. Hát Xoan là loại hình dân ca nghi lễ, phong tục, còn gọi là hát cửa đình hay “Khúc môn đình”, là hình thức nghệ thuật đa yếu tố: Ca nhạc, hát, múa phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng.

Nguồn gốc của Hát Xoan có nhiều cách giải thích bằng huyền thoại được đặt vào thời các Vua Hùng dựng nước. Có chuyện kể rằng Vua Hùng đi tìm đất đóng đô, một hôm nghỉ chân ở nơi này là quê Xoan Phù Đức – An Thái, thấy các trẻ chăn trâu hát múa, vua rất ưa thích và lại dạy thêm nhiều điệu khúc nữa, những điệu hát múa ấy của Vua Hùng và các em chăn trâu, đó cũng là những điệu Xoan tiên.

Lại có câu chuyện kể rằng vợ Vua Hùng đau bụng đã lâu ngày mà vẫn không sinh nở, một nàng hầu gái bàn nên đón nàng Quế Hoa múa đẹp hát hay đến múa hát. Quế Hoa được gọi đến trước giường, uốn tay đưa chân, dáng như tiên, giọng như suối, sắc như hoa… Vợ Vua Hùng xem múa nghe hát quả nhiên vui vẻ sinh ra được 3 người con trai tuấn tú khác thường. Vua Hùng rất vui mừng, truyền cho các công chúa trong cung nữ đều học những điệu múa hát của Quế Hoa. Lúc đó vào mùa xuân nên vua đặt tên các điệu múa hát đó là Hát Xuân.

Chuyện dân gian xã Cao Mại kể rằng Nguyệt Cư công chúa, Vua bà xã Cao Mại, con Vua Hùng, lúc lọt lòng mẹ cứ khóc hoài không ai dỗ được, chỉ khi nghe người làng An Thái hát em mới nín khóc, cứ như thế cho tới năm em lên ba tuổi. Các cụ còn kể rằng Nguyệt Cư qua làng An Thái được nghe hát rồi đau bụng đẻ, quân gia phải khiêng kiệu chạy thật nhanh về trang để bà kịp sinh nở.

Cũng vì những tình tiết trên mà ở Cao Mại có lệ chạy kiệu Vua Bà và có hát Xoan trong các ngày đình đám tế lễ, đó là những trò diễn hội làng có ý nghĩa kỷ niệm.

Làng Hương Nộn, nơi có hát Xoan thờ Xuân Nương, một tướng của Hai Bà Trưng, các cụ kể rằng: Xuân Nương khởi nghĩa đánh giặc Hán tham tàn, có lần hành quân qua làng Xoan được nghe hát Xoan bèn cho quân học hát. Cũng vì sự tích trên mà ngày tế Xuân Nương, dân làng Hương Nộn tổ chức Hát Xoan. Nếu thời Hai Bà Trưng đã có Hát Xoan để quân bà Xuân Nương học hát thì Hát Xoan hẳn đã ra đời trước đó nghĩa là vào thời Hùng Vương.

Một số nhà nghiên cứu âm nhạc lại cho rằng: Hát Xoan xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV (tức là đời hậu Lê), lời ca Xoan có những đặc điểm như hình thức, văn chương của thế kỷ XV, nghĩa là hình thể chưa cố định, vừa gồm các thể thất ngôn, vừa xen kẽ những câu 6 tiếng và kết luận rằng: Hát Xoan là một hình thức âm nhạc phong tục phát sinh từ thời kỳ nhà Lê.

Hát Xoan có 3 chặng: Hát nghi lễ, hát quả cách và hát giao duyên (hát hội). Hát nghi lễ gồm các bài: Hát chào Vua, mời Vua, Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Đóng đám.

Hát quả cách gồm 14 bài (quả là bài; cách là hình thức hát, lối hát): Kiều giang cách; Nhàn ngâm cách; Tràng mai cách; Ngư tiều canh mục cách; Đối dẫy cách; Hồi liên cách; Xoan thời cách; Hạ thời cách; Thu thời cách; Đông thời cách; Tứ mùa cách; Thuyền chèo cách; Tứ dân cách; Chơi dâu cách. Hát hội gồm nhiều bài, hát tự do phóng khoáng, nội dung các bài hát mang tính trữ tình sâu sắc: Thết trầu (còn gọi là Bợm gái); Bỏ bộ; Xin huê – Đố huê; Đố chữ; Hát đúm; Cài huê; Mó cá…

Hát Xoan có bề dày lịch sử, có tổ chức nghệ thuật chặt chẽ, không gian văn hóa rộng lớn và sức lan tỏa mạnh mẽ khắp cộng đồng. Trên chặng đường dài của lịch sử, Hát Xoan đã được nhiều thế hệ nối tiếp trao truyền; nhiều người có chức sắc; các nhân sĩ trí thức đã nâng đỡ, tạo điều kiện duy trì, phát triển.

Do nguồn gốc của Hát Xoan gắn với những câu chuyện truyền thuyết của thời đại Vua Hùng; các làng Xoan gốc đều là những ngôi làng cổ nằm trên địa bàn trung tâm nước Văn Lang như: Kim Đái, Phù Đức, Thét (xã Kim Đức), An Thái (xã Phượng Lâu), thành phố Việt Trì, nên Hát Xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố cổ thuộc tầng sâu của Văn hóa dân gian thời đại bình minh lịch sử dựng nước của dân tộc ta.

Với những giá trị nổi bật toàn cầu, ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban liên Chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức tại Bali – Indonesia, Hồ sơ Hát Xoan – Phú Thọ của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Câu trả lời:

Sự dẻo thơm của bột gạo hòa quyện với lớp nhân thịt lợn thơm ngon cùng nhiều nguyên liệu khác, bánh tai Phú Thọ đã trở thành món ăn yêu thích của người dân nơi đây.

Bánh tai còn có tên gọi khác là bánh Hòn. Đây là một loại bánh đặc sản nổi tiếng của mảnh đất Phú Thọ. Trước đây, bánh hay được gọi là bánh hòn tai vì bánh nặn giống như hình con trai trai. Về sau, bánh được gọi tắt là bánh tai nhưng hình dáng vẫn giống hình con trai nhưng dài hơn, nặn mỏng hơn và hơi cong cong giống như cái tai. Vì hình dạng của bánh giống cái tai nên người dân Phú Thọ gọi là bánh Tai.

Bánh tai Phú Thọ sở hữu màu trắng đục của bột gạo tẻ thế nên bánh rất thơm. Lớp nhân của bánh được làm bằng thịt lợn và thêm nhiều nguyên liệu khác nên khi thưởng thức món bánh tai bạn sẽ cảm nhận được sự dẻo ngọt và béo ngậy của chiếc bánh. Về cơ bản, bánh tai cực kỳ dễ ăn và nhiều người có thể ăn được vì nó làm từ bột gạo tẻ nên lành tính.

Trong ẩm thực Phú Thọ, khi thưởng thức món bánh tai thì người ta thường ăn kèm vơi cháo bột thái, hay cháo gạo tẻ và kèm theo một bát nước mắm ngon hòa sẵn. Mỗi bát cháo bạn có thể cắt nhỏ 1 – 2 chiếc bánh tai vào vừa dễ ăn lại no căng bụng. Ngày nay, thì tùy theo nhu cầu ăn uống của mọi người thì bánh tai cũng được thưởng thức theo cách khác nhau. Có người thêm nước mắm vắt chanh, một chút ớt cộng tiêu…để chấm bánh tai thì ăn vừa đậm vị mà không bị ngấy.

Câu trả lời:

Phú Thọ được biết đến là miền đất quê cha đất tổ của các vị vua Hùng, là mảnh đất mà hằng năm, “con cháu vua Hùng” cùng nhau đổ về hành hương cầu mong phúc lộc, an lành và là vùng đất của nhiều thức đặc sản Phú Thọ ngon – độc – lạ mà du khách khó có thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.

Phú Thọ không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp thiên nhiên của núi non trùng điệp mà còn nức tiếng với những món ăn ngon mang đậm hương vị quê hương khiến ai ghé thăm một lần cũng đều phải nhớ nhung.

Thịt chua Thanh Sơn: Là một món ăn ngon của dân tộc Mường, thịt chua từ lâu đã nổi tiếng như một thức đặc sản đặc biệt của Phú Thọ. Được làm từ thịt lớn lúc còn tươi sống, sau đó ướp gia vị cùng với thính gạo rồi để thịt chín lên men tự nhiên. Khi ăn món ăn này, bạn sẽ ăn cùng lá đinh lăng, lá ổi, lá sung bởi vị ngọt chua của thịt kết hợp với vị bùi của các loại lá sẽ khiến cho hương vị hòa quyện trở nên vô cùng thú vị.

Loại bánh ngon của Phú Thọ được gọi là bánh tai bởi nó có hình dạng giống như một cái tai. Được làm từ gạo tẻ và nhân thịt lợn cùng một số nguyên liệu riêng khác, loại bánh này cuốn hút người ăn không phải bởi vẻ ngoài mà chính bởi hương vị rất ngon, thơm và dễ ăn.

Nói đến đặc sản Phú Thọ là gì thì không thể nào không nhắc đến món rêu đá vô cùng độc đáo và lạ miệng. Món ăn này được chế biến từ một loại rêu xanh mọc tự nhiên trên các phiến đá trong rừng, nơi ẩm thấp hoặc có sông suối chảy siết. Nghe thì có vẻ khá là lạ nhưng loại rêu được sử dụng không chỉ có hương vị độc đáo mà còn rất ngon nên được nhiều thực khách yêu chuộng.

Nhắc đến Phú Thọ thì không ai là không nghĩ tới những rừng cọ xum xuê sai trĩu những chùm quả chín già khi đến mùa. Chính từ đó, người dân địa phương đã sáng tạo nên món cọ ỏm vô cùng đặc biệt. Để làm được món ăn này, người làm phải là những người có kinh nghiệm và biết căn giờ thật chuẩn.

Cọ ỏm nhìn bên ngoài có màu đen bóng nhưng bên trong lại hấp dẫn với màu vàng ươm như màu của mật ong. Khi ăn, bạn sẽ thấy như bị mê hoặc bởi vị ngọt tự nhiên, hương thơm rất lạ và nổi bật nhất là vị bùi và sự béo ngậy cực kỳ cuốn hút. Ăn cọ ỏm chấm với nước mắm hoặc muối vừng thì tuyệt diệu vô cùng.

Đến Phú Thọ mà không thưởng thức món xáo chuối bình dị, dân dã mang đậm phong vị quê hương của vùng đất này thì thật là đáng tiếc. Được làm từ chuối, xương, tương, riềng, mắm, muối, hạt tiêu… tuy rất đơn giản nhưng hương vị lại rất hấp dẫn. Món ăn này thường được người dân địa phương sử dụng chủ yếu cho đám, tiệc hay những sự kiện quan trọng.

Câu trả lời:

Phú Thọ là địa phương với rất nhiều những điểm du lịch hấp dẫn, cuốn hút du khách trong đó đặc biệt chính là khám phá vẻ đẹp cuốn hút của Hồ Ly tại Yên Lập với rất nhiều nét đẹp của tự nhiên độc đáo.

Trong chuyến du lịch nếu có dịp đến xã Thượng Long huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ, hãy nhanh chân và khám phá vẻ đẹp cuốn hút đầy sức sống của Hồ Ly nhé. Địa điểm này trở thành địa điểm du lịch mới nổi thu hút các bạn trẻ tới thăm quan, check-in sống ảo và dành cho những gia đình có nhu cầu nghỉ dường và thư giãn đặc biệt với vẻ đẹp hòa nhập với thiên nhiên cùng với màu xanh của núi rừng sẽ làm hài lòng những du khách khó tính nhất.

Hồ Ly nằm ở xã Thượng Long của huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ. Diện tích của hồ khá rộng với 40 ha tha hồ cho du khách thăm quan trải nghiệm và khám phá với vẻ đẹp cuốn hút khó cưỡng. Cảnh quan xung quanh hồ là núi non trùng điệp với màu xanh bát ngát của núi rừng sẽ đem lại nguồn năng lượng quý báu cho những ngày làm việc mệt mỏi.

Hồ Ly – cái tên đặc biệt này có vẻ sẽ làm bao du khách không khỏi thắc mắc, đây là sự kết hợp giữa hai khe nước khe Chanh và khe Ly. Người dân nơi đây từ lâu đã đặt tên cho khe Ly là tên gọi cho hồ. Nơi đây là hồ trự nước lớn của tỉnh Phú Thọ và cung cấp nước cho các xã lân cận như Nga Hoàng, Thượng Long, Hưng Long, Tân Long, Đồng Thịnh, Phúc Khánh. Do vẻ đẹp cuốn hút khó cưỡng của tự nhiên nơi đây mà du khách thập phương đang tới đây ngày càng đông, phát triển du lịch Hồ Ly nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung.

Đặt chân tới hồ nước với tên gọi đặc biệt này điều đầu tiên bạn sẽ cảm nhận được đó chính là nét hoang sơ và yên bình tại nơi đây.Tại hồ Ly có một cây cầu treo bằng sắt nhuốm màu thời gian và là điểm sống ảo độc đáo cho giới trẻ, khi đi qua cây cầu này sẽ có cảm giác bồng bềnh khó tả và đặc biệt là chút sợ hãi cho những ai yếu tim.

Cây cầu treo này nối 2 quả đồi với nhau , khi đi trên cầu bạn có thể ngắm xung quanh rừng núi xanh mướt, ngắm dòng nước dưới cầu…một vẻ đẹp cuốn hút nên thơ trữ tình nhưng cũng tuyệt đẹp và gần gũi với thiên nhiên.

Câu trả lời:

Đầm Ao Châu Phú Thọ là một khu sinh thái nằm trên khu vực thị trấn Hạ Hòa và các xã Ấm Hạ, Y Sơnvà Phụ Khánh, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Từ thị xã Phú Thọ về đây khoảng 35 km. Còn nếu bạn xuất phát từ thành phố Việt Trì, khoảng cách sẽ là 60 km.

Đầm Ao Châu được các chuyên gia đánh giá có tiềm năng du lịch hấp dẫn nhờ kết cấu địa hình hòn đảo, thảm thực vật phong phú cùng làn nước trong xanh, sạch sẽ. Tuy ngày nay, nơi này đã và đang được phát triển du lịch một cách chuyên nghiệp nhưng vẫn giữ được thần thái của một bức tranh thiên nhiên hoang sơ, thơ mộng.

Những du khách đã từng ghé thăm đầm Ao Châu Phú Thọ đều công nhận rằng, danh xưng “Vịnh Hạ Long thu nhỏ” là hoàn toàn xứng đáng với địa danh du lịch này. Tổng thể Ao Châu là một đầm nước lớn, có tổng diện tích khoảng 300 ha. Trong đầm có khoảng 100 hòn đảo lớn nhỏ “bày binh bốt trận” khắp nơi, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp tựa như Hạ Long khi nhìn từ trên cao.

Các hòn đảo trong đầm Ao Châu được bao phủ bởi một thảm thực vật dày đặc và số lượng vô cùng đa dạng. Kết cấu các hòn đảo cũng không đều nhau, có hòn rất nhỏ, có hòn rất lớn, cũng có hòn thấp bé và hòn cao lớn. Trong đó, hòn đảo có đỉnh cao nhất được xác định là chiều cao lên đến 177 mét so với mặt biển. Tuy nhiên, so với mặt nước hồ thì hòn đảo này chỉ cao khoảng 30m.

Điểm hấp dẫn của đầm Ao Châu Phú Thọ là xung quanh đầm có đến 99 ngách nước đan xen, cài cắm vào trong các khe núi. Tất cả tạo nên một đầm nước hoang sơ, mang đậm chất phóng khoáng của thiên nhiên đất trời.

Nước trong đầm lúc nào cũng dồi dào với độ sâu trung bình khoảng 3 mét. Ngoài ra, có một số khu vực nước sâu lên đến 35 mét. Nhờ đó mà quanh năm, đầm luôn có đầy đủ nước bất kể mùa mưa hay nắng.

Ngoài ra, lượng nước ổn định cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vật thủy sinh phát triển. Đặc biệt, ở đây có rất nhiều động vật quý sinh sống như ba ba, rùa vàng, giải và các loại cá. Đến đầm Ao Châu Phú Thọ vào mùa nào trong năm, bạn cũng thấy nước trong phẳng lặng. Vào buổi sớm mai, nước trong hồ bàng bạc màu sương.

Trưa và chiều là thời điểm nước chuyển màu trong xanh ngọc bích. Còn khi hoàng hôn xuống, mặt hồ lại ánh lên gam màu tim tím, mang một nét đẹp lãng đãng mơ màng, làm say mê bao con tim lữ khách. Xung quanh bờ Ao Châu là những khu vườn trồng cây ăn quả của người dân địa phương như vải, nhãn, bưởi, khế,… tạo nên một khung cảnh mướt mát, yên bình, rất lý tưởng cho các trải nghiệm du lịch sinh thái.

Ngoài vẻ đẹp trữ tình mà thiên nhiên ban tặng, đầm Ao Châu còn gắn liền với câu chuyện mà dân gian lưu truyền về vua Hùng. Truyền thuyết kể lại, xưa kia vua Hùng Vương trong chuyến hành trình tìm đất đóng đô đã dừng chân lại đây vì cảm mến vẻ đẹp phong thủy hữu tình cùng địa thế sông nước hài hòa.

Có lẽ vì câu chuyện này mà khi nhắc đến Ao Châu, ai nấy đều dành một niềm yêu mến và trân trọng như một địa danh linh thiêng trên vùng đất tổ.

Câu trả lời:

Nhắc đến đồi chè thì ai cũng sẽ nghĩ ngay đến cánh đồng trà xanh mướt tuyệt đẹp tại Lâm Đồng hay đồi chè Sa Pa với vẻ đẹp độc nhất vô nhị. Thế nhưng, có lẽ ít ai biết được vẻ đẹp đồi chè Long Cốc Phú Thọ được mệnh danh là ngọn đồi đẹp nhất Việt Nam. Những ngọn đồi chè thoai thoải với những hàng chè xanh uốn lượn quanh co, cộng với thời tiết tuyệt vời ở đây đã tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp.

Đồi chè Long Cốc nằm gần khu du lịch vườn quốc gia Xuân Sơn tại huyện Tân Sơn, Phú Thọ. Diện tích đồi chè Long Cốc vô cùng rộng lớn với hơn 677ha chè, trong đó khu vực có thể thu hoạch lên tới 610ha. Khi đến đây, ngoài được nhìn ngắm những đồi chè xanh mướt chạy dài uốn lượn từ ngọn đồi này qua ngọn đồi khác, du khách còn được tìm hiểu về các giống chè chất lượng cao như PH1, PH8, LDP1, LDP2 và một số loại chè đặc sản như chè San, chè Bát Tiên…

Từng đồi chè to nhỏ nằm liền kề nhau được mệnh danh là “Vịnh Hạ Long miền trung du”. Chính vì vùng đồi chè bao la bát ngát này đã được nhiều người để mắt đến vô tình ghé qua cung đường này, từng hàng chè trải dài bao phủ cả một ngọn đồi tạo nên những ụ nhấp nhô xanh mướt nổi tiếp nhau. Cả đồi chè Long Cốc như một bức tranh tuyệt đẹp như những cảnh tượng trong phim.

Du khách có thể tìm đến đây để khám phá đồi chè Long Cốc Phú Thọ bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, hàng ngàn quả đồi lớn nhỏ này sẽ tạo nên một khung cảnh mờ ảo tuyệt đẹp khi bạn ghé thăm vào đúng thời điểm giao mùa cuối thu đầu đông. Khi đó cả một đồi che xanh bao la ẩn hiện mập mờ bên dưới màn sương bao phủ tuyệt đẹp.

Những buổi sáng tinh mơ, khi đứng từ trên cao nhìn xuống, đồi chè im lìm ngủ vùi dưới lớp sương và mây đang nhẹ nhàng trôi hững hờ ngay sát trên đỉnh đồi như một cảnh sắc chốn bồng lai tiên giới tuyệt đẹp.

Vẻ đẹp đồi chè Long Cốc sẽ khiến bất cứ ai lỡ nhìn thấy nó đều phải ngất ngây. Chính vì thế lỡ mê đắm khung cảnh tuyệt đẹp của những quả đồi ngập tràn sắc xanh của chè thì đừng chần chờ mà hãy hòa mình giữa những hàng chè xanh ngắt để tận hưởng bầu không khí trong lành, thanh bình nơi này.

Câu trả lời:

Trên đất nước Việt Nam yêu dấu có rất nhiều cảnh đẹp. Một trong số đó là đền Hùng – nơi thờ các Vua Hùng thời xưa đã có công dựng nước. Đền Hùng là một thắng cảnh đẹp, một di tích lịch sử có ý nghĩa nhất đối với người Việt Nam vì đó là nơi thờ cúng, tưởng niệm của vua Hùng, tổ tiên chung của cả dân tộc.

Đền Hùng nằm ở phía tây bắc Hà Nội, cách Thủ đô chưa đầy 90km. Nơi đây được xây dựng trên núi Hùng (hay còn được gọi là núi Cả, núi Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiêu Sơn…). Núi có độ cao 175m so với mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Văn, núi Trọc, núi Pheo. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145m. Theo truyền thuyết, ba đỉnh núi này là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.

Phong cảnh nơi đây mới hùng vĩ làm sao! Ở đó núi non trùng điệp, rừng cây bạt ngàn xanh tốt. Vào những ngày đẹp trời, ta có thể nhìn thấy dòng sông Lô hiền hòa, trong vắt, những xóm làng ẩn hiện trong vườn cây trái như một bức tranh đầy màu sắc. Từ núi Nghĩa Lĩnh có thể “quan sát được cả một vùng rất rộng của trung tâm Bắc Bộ với ngã ba Hạ, nơi sông Lô đổ nước vào sông Hồng, với các dãy núi Tam Đảo, Ba Vì và các dãy đồi lượn sóng xen kẽ giữa những cánh đồng tốt tươi, những vùng quê trù phú của vùng trung du.

Toàn bộ khu di tích gồm bốn đền, một chùa và một lăng hài hòa trong phong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất đẹp mắt. Cao nhất là Đền Thượng, thấp nhất là Đền Giếng. Các Đền được xây dựng theo một kiến trúc cổ kính. Sau khi qua cổng chính của khu di tích, qua 225 bậc đá, là lên đến đền Hạ. Ở khu vực Đền Hạ có chùa Thiên Quang và cây Thiên Tuế 700 tuổi; gần đó có đền Ngọc và giếng Ngọc. Từ Đền Hạ theo 168 bậc đá nữa là Đền Trung và lên tiếp 102 bận nữa thì lên Đền Thượng và có lăng vua Hùng, tượng trưng cho mộ Tổ.

Cổng đền được xây theo kiểu vòm cuốn. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, bốn góc tầng mái trang trí rồng, đắp nổi hai con nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sĩ; giữa tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh – hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần.

Qua cổng chính là Đền Hạ. Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Ngay chân Đền Hạ là nhà bia, trên đỉnh có đắp hình, nậm rượu. Nơi đây đặt bia đá ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1945: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Gần Đền Hạ có ngôi chùa Thiên Quang thiền tự. Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Bác Hồ ngồi nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ. Chùa có một gác chuông được xây dựng vào thế kỉ XVII. Tiếp đến là Đền Trung. Tương truyền đây là nơi các vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Đây cũng là nơi vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu – người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.

Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để cử hành những buổi lễ thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng.

Tiếp đến là Lăng Hùng Vương, tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng hình vuông, tầng dưới bốn góc đắp bốn con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc”. Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, hai bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lãng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữ nhật dài, có mái mui luyện.

Từ Đền Thượng, đi tham quan một đoạn nữa là đến Đền Giếng (tên chữ là Ngọc Tỉnh), tương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng muôn đời, cổng Đền Giếng có kiểu dáng gần giống cổng chính nhưng nhỏ và thấp hơn.

Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn). Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải Lựu.

Ngay dưới chân núi là Bảo tàng Hùng Vương. Trong Bảo tàng có nhiều hiện vật, tranh ảnh, tượng lớn khắc hoạ chủ đề: “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.

Vào những ngày giỗ Tổ Hùng Vương, cờ, hoa, biểu ngữ được trang hoàng khắp mọi nơi. Cờ bay đỏ những cành cây, đỏ những mặt hồ. Trong những ngày lễ, Đền Hùng càng đông khách thập phương đến tham quan và thắp hương, tưởng nhớ ghi dấu công ơn của các vua Hùng.

Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử — văn hóa đặc biệt quan trọng đối với người Việt Nam. Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng giống tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam.

Câu trả lời:

Một trong những di tích lịch sử có giá trị của dân tộc, đó là Đền Hùng. Nơi đây đã gợi nhắc con cháu đời sau nhớ về công ơn dựng nước của các vua Hùng.

Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Xa xưa, vùng đất này là khu vực trung tâm của nước Văn Lang, nằm giữa hai dòng sông giống như hai dãy hào thiên nhiên khổng lồ bao bọc lấy cố đô xưa của các vua Hùng.

Đền Hùng nằm trên núi Hùng trông xa giống như đầu của một con rồng lớn hướng về Nam, mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn, núi Pheo. Phía sau núi Hùng có những quả đồi lớn san sát nối liền dài tới 10km giống như đàn voi chầu về Đất Tổ, phía trước là ngã ba Bạch Hạc với sự hợp lưu của ba dòng sông lớn nhất miền Bắc: sông Hồng, sông Lô và sông Đà tạo ra một vùng nước lớn mênh mông.

Từ đó có những quả đồi thấp lô nhô giống như một đàn rùa nước bò lên chầu về Nghĩa Lĩnh. Phía Đông xa mờ là dãy Tam Đảo trùng điệp (núi mẹ), xa về phía nam là dãy Ba Vì cao ngất (núi cha) tụ lại.

Quần thể khu di tích lịch sử đền Hùng gồm: đền Hạ, chùa Thiên Quang, đền Trung, đền Thượng, lăng Vua Hùng, đền Giếng, đền Tổ Mẫu u Cơ, đền Quốc Tổ Lạc Long Quân và cùng với đó là các công trình phụ trợ nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của đồng bào cả nước về Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm.

Đầu tiên là đền Hạ được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII. Kiến trúc kiểu chữ nhị bao gồm Tiền bái và Hậu cung. Kiến trúc đền Hạ đơn sơ, kèo cầu suốt, quá giang đóng trụ, mái lợp ngói mũi. Tương truyền rằng đây là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng. Sau đó bọc trăm trứng nở thành trăm người con .

Năm mươi người con theo Lạc Long Quân xuống biển, năm mươi người con theo Âu Cơ lên rừng. Người con trai trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương và đặt tên nước là Văn Lang. Truyền thuyết này đã lý giải nguồn gốc của cộng đồng người Việt, nghĩa “đồng bào” (cùng một bọc) được bắt nguồn từ đây.

Tiếp đến là chùa Thiên Quang, chùa xưa có tên gọi là “Viễn Sơn Cổ Tự” sau đổi thành “Thiên Quang Thiền Tự”. Ngôi chùa được xây dựng vào thời Trần đến thế kỷ XV xây dựng lại, thời Nguyễn chùa được đại trùng tu.

Hiện nay chùa có kiến trúc kiểu chữ công gồm ba toà tiền đường (5 gian) Tam bảo (3 gian) và Thượng điện (3 gian) các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột, kèo suốt cài nóc. Phía ngoài có hành lang xây xung quanh. Mái chùa lợp ngói mũi có đầu đao cong, bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa. Trước cửa chùa có cây Vạn tuế có tuổi gần tám trăm năm.

Đền Trung hay còn có tên gọi khác là Hùng Vương Tổ miếu được xây dựng vào thời Lý – Trần. Đến thế kỷ XV, bị giặc Minh tàn phá, sau này được xây dựng lại, kiến trúc hiện nay kiểu chữ nhất gồm ba gian, kiến trúc đơn sơ không có cột, kèo cầu quá giáng cột trốn gối vào tường, mái lợp ngói mũi. Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng Lạc Hầu, Lạc Tướng ngắm cảnh và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu người con hiếu thảo sáng tạo ra bánh chưng, bánh dày.

Tiếp đến là đền Thượng có tên chữ là Kính thiên lĩnh điện, đến thế kỷ XV đền được xây dựng quy mô, vào thời Nguyễn triều đình cấp tiền, cử quan về giám sát việc đại trùng tu. Hiện nay đền có kiến trúc kiểu chữ Vương, được xây dựng bốn cấp: Nhà chuông trống, Đại bái, Tiền tế và Hậu cung.

Kế tiếp là đền Giếng có tên chữ là Ngọc Tỉnh. Tương truyền là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái Vua Hùng thứ 18 thường soi gương chải tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai nàng là người có công dạy dân trồng lúa, trị thuỷ nên nhân dân lập đền thờ. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18, đền được xây dựng lên trên giếng nên hiện nay giếng ở bên trong hậu cung của đền bốn mùa nước trong mát, không bao giờ cạn.

Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên đỉnh núi Vặn (tên mỹ là tự là núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn. Đền được xây dựng nhằm thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Tổ Mẫu Âu Cơ người mẹ thiêng liêng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.

Cuối cùng là đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được xây dựng dưới chân núi Sim vào năm 2006. Trong đền đặt tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân, tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng được đúc bằng đồng. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân tạo thành một quần thể kiến trúc cảnh quan, góp phần bảo tồn, tái tạo hình ảnh lịch sử, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong việc thờ tự thuỷ tổ dân tộc. Nhằm giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc.

Có thể thấy, khu di tích lịch sử Đền Hùng không chỉ để lại những giá trị về văn hóa, mà còn về cả kiến trúc. Nơi đây cũng gợi nhắc con người hướng tới truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” quý giá của dân tộc Việt Nam.