HOC24
Lớp học
Môn học
Chủ đề / Chương
Bài học
Chu trình sống và gây bệnh của sán lá gan:
- Khi sán lá gan trưởng thành đẻ trứng thì trứng sẽ đi theo đường mật xuống tới ruột rồi theo phân ra khỏi cơ thể. Trứng gặp nước trong khoảng 9 - 21 ngày sẽ nở ra ấu trùng lông.
- Ấu trùng lông chọn ốc thuộc họ Lymnaea làm vật chủ trung gian rồi phát triển thành ấu trùng đuôi trong khoảng 6 - 7 tuần. Sau khi rời khỏi vỏ ốc, ấu trùng đuôi bám vào thực vật thủy sinh hoặc bơi tự do trong nước để tạo nang ấu trùng.
- Khi động vật hoặc con người ăn/uống phải nang ấu trùng sẽ nhiễm sán lá gan. Thông qua đường miệng, trong khoảng 1 giờ, nang ấu trùng thoát khỏi kén rồi xuyên qua thành ruột. 2 giờ sau đó, nó nằm trong ổ bụng rồi tiếp tục xuyên qua màng Glisson đi vào gan. Tính từ thời điểm thoát kén, thời gian để nang ấu trùng có mặt ở gan và kí sinh đến đường mật là khoảng 6 ngày.
- Giun tròn lây nhiễm vào người chủ yếu thông qua con đường tiêu hóa khi ăn, uống phải ấu trùng hoặc trứng của giun tròn. Tuy nhiên, một số loại giun tròn có thể lây truyền qua côn trùng.
- Cơ chế gây hại của giun tròn:
+ Giun tròn lấy chất dinh dưỡng từ máu, dịch mô,... làm cơ thể người bị mất chất dinh dưỡng.
+ Giun tròn có thể kí sinh ở ống tiêu hóa, hệ tuần hoàn hoặc các cơ quan nội tạng. Trước khi đến kí sinh ở vị trí cố định, một số giun tròn có giai đoạn di chuyển đến nhiều nơi trong cơ thể vật chủ gây hiện tượng lạc chỗ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như nhiễm trùng thần kinh trung ương, liệt dây thần kinh sọ não, suy giảm thị lực, phù võng mạc,…
- Một số bệnh do kí sinh trùng gây ra: sốt rét, toxoplasma, viêm màng não, kiết lị,...
- Kí sinh trùng gây bệnh lây nhiễm vào cơ thể qua các con đường: tiêu hóa, vết cắn côn trùng, quan hệ tình dục.
- Bệnh do nấm gây ra chia thành các loại như: nấm da, nấm dưới da, nấm toàn thân hoặc nấm gây bệnh ở các cơ quan nội tạng.
- Một số bệnh do nấm gây ra trên người: lang ben; nấm da nigra; trứng tóc trắng; trứng tóc đen; nhiễm nấm candida ở da, niêm mạc hoặc móng tay;...
- Cơ chế lây truyền của vi khuẩn V.cholerae: V.cholerae lây truyền qua đường tiêu hoá. V.cholerae xâm nhập vào cơ thể người qua đường ăn uống khi con người sử dụng nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm. Vi khuẩn theo phân của người bệnh phát tán ra ngoài và tiếp tục lây nhiễm cho cộng đồng.
- Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn V.cholerae: Khi vào trong cơ thể người, V.cholerae cố định trên bề mặt tế bào niêm mạc ruột, sinh trưởng, phát triển và sản sinh độc tố. Độc tố của V.cholerae ức chế quá trình trao đổi chất của các tế bào niêm mạc dẫn đến hiện tượng tiêu chảy.
- Con đường lây nhiễm của vi khuẩn M.tuberculosis: Vi khuẩn lao từ người bệnh được đưa vào không khí khi hắt hơi, khạc, ho, nói chuyện,... và khi người khác hít phải giọt bắn có chứa vi khuẩn lao thì sẽ bị lây bệnh.
- Cách thức gây bệnh của vi khuẩn M.tuberculosis: Khi vào trong phổi, vi khuẩn phát triển mạnh và gây bệnh tại phổi. Từ phổi, vi khuẩn có thể qua máu đến các cơ quan khác trong cơ thể như hạch bạch huyết, xương, gan, thận,… và gây bệnh tại đó.
Những bệnh có thời gian biểu hiện nhanh thường liên quan đến cơ chế sản sinh độc tố gây độc cho tế bào, mô hoặc cơ thể vật chủ. Vì vi khuẩn sản sinh độc tố sẽ sinh độc tố ức chế quá trình sinh lí, hóa sinh gây chết cho tế bào và mô vật chủ lập tức dẫn đến thời gian diễn ra nhanh. Còn cơ chế tổng hợp enzyme sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn nên diễn ra lâu hơn.
- Các triệu chứng khi nhiễm virus sởi:
+ Trong những ngày đầu có dấu hiệu sốt nhẹ đến trung bình, kèm theo ho dai dẳng, sổ mũi, viêm kết mạc và đau họng.
+ Những ngày tiếp theo sẽ xuất hiện các dấu hiệu điển hình của bệnh như nốt phát ban, những đốm nhỏ màu đỏ hơi sưng từ trên mặt, cổ và di chuyển xuống dưới, lan khắp cơ thể. Đồng thời, cơn sốt tăng cao thường khoảng 40 – 41 oC.
- Triệu chứng điển hình ở người bị bệnh sởi là: xuất hiện nốt phát ban, những đốm nhỏ màu đỏ hơi sưng từ trên mặt, cổ và di chuyển xuống dưới, lan khắp cơ thể.
Gọi bệnh do HIV gây ra là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải vì: Khi vào trong cơ thể người, HIV tấn công vào các tế bào có thụ thể CD4 của hệ thống miễn dịch như tế bào lympho T, đại thực bào và tế bào tua. Virus phá hủy các tế bào của hệ thống miễn dịch làm hệ thống miễn dịch dần suy yếu và cơ thể trở nên mẫn cảm với các virus khác hoặc sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, nấm,…
- Cách thức xâm nhiễm của virus cúm A trên người: Virus cúm xâm nhiễm vào đường hô hấp theo các giọt bắn thông qua tiếp xúc với các nguồn bệnh có chứa virus.
- Cách thức gây bệnh của virus cúm A trên người: Khi vào trong cơ thể, virus xâm nhiễm vào các tế bào biểu mô đường hô hấp, virus cũng có thể xâm nhiễm vào các tế bào phế nang, tế bào tuyến nhày và các đại thực bào. Ở trong các tế bào bị nhiễm, virus nhân lên trong vòng 4 - 6 giờ, sau đó phát tán và lây nhiễm sang các tế bào và vùng lân cận rồi biểu hiện bệnh trong 18 - 72 giờ với các triệu chứng ban đầu như sốt, nhức đầu và đau mỏi cơ.