Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 5
Số lượng câu trả lời 163
Điểm GP 7
Điểm SP 135

Người theo dõi (2)

tuan duonh

Đang theo dõi (1)


Câu trả lời:

Thứ nhất : Lĩnh vực nông nghiệp :

– Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền. Trong cuộc khai thác này, có rất nhiều tên thực dân đã chiếm hàng ngàn, hàng vạn hecta đất để lập các đồn điền trồng lúa, trồng cà phê, chè hay cao su.

– Ép triều đình nhà Nguyễn khai khẩn đất hoang cho chúng.

Thứ hai : Lĩnh vực công nghiệp : 

– Thực dân Pháp tập trung và khai thác mỏ để vơ vét nguồn khoáng sản giàu có ở Việt Nam, đặc biệt là các mỏ than đá, thiếc, kẽm ở Hòn Gai, Thái Nguyên, Tuyên Quang,… Tất cả khoáng sản mà chúng vơ vét được đều được đưa về Pháp. Phần lớn các xí nghiệp khai thác mỏ đều nằm trong tay các tập đoàn tư bản pháp, đồng thời, chúng còn tận dụng nguồn nhân công lao động rẻ mạt tại Việt Nam để tiến vào các hầm mỏ làm việc cho chúng.

– Thực dân Pháp tiến hành cho xây dựng nhiều cơ sở phục vụ đời sống của chúng tại Việt Nam, như: điện, nước, bưu điện, hay cơ sở sản xuất xi măng, dệt nhằm tận dụng nhân công và nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của chúng khi hàng hóa chính quốc chưa kịp chuyển sang.

-> Một số ngành nghề thủ công tại Việt Nam đã bị mai một như dệt, gốm, … do không có đủ điều kiện để sản xuất và đồng thời không cạnh tranh được với hàng hóa của Pháp.

Thứ ba: Lĩnh vực giao thông vận tải

– Những đoạn đường sắt ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ được xây dựng ngày càng nhiều. Tính đến năm 1912, tổng chiều dài đường sắt đã làm xong ở Việt Nam là 2.059 km, đường bộ được mở rộng đến các khu hầm mỏ, đồn điền, bến cảng và các đường biên giới trọng yếu.

– Các cây cầu, cảng biển, các tuyế đường biển ngày càng được xây dựng nhiều và vươn ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mục đích xây dựng hệ thống giao thông của Pháp nhằm phục vụ cho mục đích khai thác lâu dài là chủ yếu, đồng thời góp phần hỗ trợ trong việc bóc lột nhân dân ta một cách dễ dàng.

-> Đây là một trong các lĩnh vực được thực dân Pháp tập trung phát triển một cách mạnh mẽ.

Câu trả lời:

Tham khảo :

    Trong cuộc sống ta bắt gặp rất nhiều tình bạn gắn bó keo sơn son sắt thủy chung như tình bạn giữa Lý Bạch với Mạnh Hạo Nhiên, tình bạn giữa Các mác và Ăng ghen những tình bạn vượt lên trên tất cả vật chất để đến với nhau, tình bạn của họ hết sức trong sáng. Trong sáng tác văn chương thì chủ đề tình bạn cũng là một chủ đề được rất nhiều nhà văn đề cập tới. Trong số đó không thể không kể tới bài bác đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.

Bài thơ là cảm xúc hồ hởi khi bạn đến chơi nhà sự gặp mặt giữa những người bạn tri âm tri kỉ.

Đã bấy lâu nay bác đến nhà

Câu thơ cho thấy sự vui sướng của chủ nhà khi được người bạn tới thăm. Có lẽ đã rất lâu rồi họ không gặp mặt nhau không có dịp hàn huyên tâm sự. Khung cảnh tay bắt mặt mừng hồ hởi thật là xúc động. Sự mong mỏi bấy lâu của chủ nhà nay đã thành sự thật bạn bè tri kỉ đã tới thăm nhau thật là quý. Cách xưng hô bác thể hiện sự thân mật như anh em trong một nhà tình bạn gắn bó son sắt thủy chung.

Lâu ngày không gặp nhau hẳn chủ nhà sẽ thiết đãi bạn mình một cách trọng thị và chu đáo, nhưng hoàn cảnh thật làm cho người ta khó xử.

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa

Ao sâu nước cả, khôn chài cá

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà

Cải chửa ra cây, cà mới nụ

Bầu vừa rụng rốn, mướp đơm hoa

Tác giả khắc họa lên hình ảnh về cuộc sống làng quê chân chất và thân thuộc ta đọc mà cảm thấy thân thương gần gũi quá như chính quê mẹ quê bà. Chốn quê tuy nghèo nhưng cảnh vật thì thật sự sống động, có ao cá in bóng những hàng tre xanh mát, có những đàn gà thẩn thơ theo mẹ mỗi lúc chiều về, có giàn bầu giàn mướp sai trĩu quả như những đàn lợn con.

Bạn lâu ngày tới chơi lẽ ra phải làm mâm cơm hàn huyên nhưng nếu vướng phải tình cảnh như tác giả thì quả thật có ao có ruộng có vườn mà cũng như không. Rời chốn quan trường đấu đá thiệt hơn cự tuyệt mọi sự cám dỗ mọi lầu son gác tía gấm lụa ấm êm Nguyễn Khuyến đã trở về quê sống một cuộc đời thanh bạch gắn bó với làng quê gắn bó với cuộc sống tằn tiện đạm bạc nhưng giàu có sảng khoái về tinh thần. Tác giả đã biến cái nghèo cái khó trở thành điều hết sức bình thường, tác giả đã thi vị hóa khi nói về cái nghèo. Cách nói ngôn ngữ thơ có chút gì đó hóm hỉnh chất phác và lạc quan của những con người sống nơi làng quê. Tính chất tự trào ngôn ngữ tự trào thể hiện khá rõ nét trong bài thơ này .

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng sự phát triển ý thơ khá bất ngờ không theo cấu trúc (đề, thực, luận, kết) như ở thơ Đường truyền thống. Đó là một sự đặc biệt như chính cái cách hai người bạn trong khách đến chơi hà gặp gỡ và trong chuyện với nhau.

Các từ (sâu, cả, rộng, thưa) các trạng từ chỉ tình trạng (khôn, khó) các trạng từ chỉ sự tiếp diễn của hành động (chửa, mới, vừa, đương) hô ứng bổ trợ cho nhau một cách rất khéo léo, dung dị gần gũi và tự nhiên. Một cuộc sống giản dị nhưng cũng hết sức đáng yêu hiện ra:

Đầu trò tiếp khách, trầu không có

Dân gian ta có câu: Miếng trầu là đầu câu chuyện. Miếng trầu là sự lịch thiệp xã giao là thứ tối thiểu cần phải có khi bắt đầu một câu chuyện. Vậy mà nhà cụ tam nguyên yên đổ một vị quan lớn trong triều đình mà miếng trầu cũng không có, quả thật là một sự tự trào lớn lao của tác giả. Những thứ vật chất bình thường nhất đem ra tiếp bạn cũng không có. Bạn đến chơi nhà chỉ có tấm lòng có sự chân thành cảm thông cho nhau. Vật chất dù là nhỏ nhất cũng bị gạ sang một bên nhường chỗ cho những tấm lòng tri âm tri kỉ với nhau. Thật đáng ngưỡng mộ những tình bạn như vậy.

Ai đã đọc bài thơ Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê thì sẽ không khỏi kìm lòng xúc động trước tình bạn gắn bó keo sơn của họ

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước

Tôi với bác hôm sớm có nhau

Kết thúc bài thơ thật là giản dị: Bác đến chơi đây ta với ta. Vượt lên mọi rào cản vật chất chỉ là những thứ phù du bọt bể tình cảm họ dành cho nhau thật đáng quý như viên ngọc luôn sáng long lanh. Ý chất chứa bao nhiêu cảm xúc dạt dào trìu mến lời thơ giản dị đã vẽ lên chân dung một tình bạn đẹp mẫu mực của mọi thời đại. 

Câu trả lời:

Câu 1 :

- Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước . Theo thống kê nước ta có tới 2360 con sông dài trên 10 km, trong đó 93% là các sông nhỏ và ngắn (diện tích lưu vực dưới 500 km2). Các sòng lớn như sông Hồng, Mê Công (Cửu Long) chỉ có phần trung và hạ lưu chảy qua lãnh thổ nước ta. Chúng tạo nên những đồng bằng châu thổ rất rộng lớn và phì nhiêu.

- Nguyên nhân :

+ Do các điều kiện tự nhiên .

+ Do quá trình tăng dân số .

+ Do rác thải trong sinh hoạt .

+ Từ rác y tế .

+ Qúa trình sản xuất nông nghiệp , công nghiệp ,....

- Biện pháp :

+ Muốn khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước như hiện nay, chúng ta cần đến sự chung tay góp sức của toàn cộng đồng. Bắt đầu từ ý thức của mỗi người dân, nâng cao hiểu biết của bản thân để sử dụng hiệu quả tránh ô nhiễm nước.

+ Doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải tìm cho mình giải pháp tối ưu cho quy trình xử lý nước thải, áp dụng sản phẩm vi sinh vào xử lý

+ Các lực lượng chức năng phải vào cuộc, tiến hành kiểm tra, giám sát đánh giá để sớm phát hiện ra vấn đề và khắc phục tình trạng ô nhiễm nhanh nhất.

+ Các cơ quan nhà nước hoàn thiện cơ chế, pháp quyền nghiêm khắc xử lý các đơn vị vi phạm, tạo điều kiện cho sự ứng dụng công nghệ mới.

Câu 2 :

- Sinh vật:

+ Sinh vật rất phong phú và đa dạng.

+ Trên đất liền: đới rừng nhiệt đới gió mùa và trên biển Đông: hệ sinh vật biển nhiệt đới vô cùng giàu có.

- Những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm tài nguyên rừng của nước ta:

+ Do hậu quả chiến tranh.

+ Nạn lâm tặc, khai thác rừng bừa bãi.

+ Cháy rừng.

+ Mở rộng diện tích đất canh tác, nạn du canh du cư của đồng bào dân tộc ít người.

+ Các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình cơ bản, phát triển thủy điện..

- Biện pháp :

+ Mọi người cùng nhau chung tay góp sức bảo vệ rừng.

+ Tuyên truyền cho mọi người biết tác hại của việc suy giảm tài nguyên rừng.

+ Trồng rừng.



 

Câu trả lời:

Tham khảo:

Nguyễn Trãi không chỉ là đại thi hào của dân tộc mà còn là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca trung đại Việt Nam. Đọng lại trong mỗi người đọc chính là những áng thơ bất hủ trong "Bình Ngô Đại cáo". Áng chính luận đã thể hiện xuất sắc tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập của nước Đại Việt. Trước hết, tư tưởng nhân nghĩa đã được đề cập đến trong những dòng thơ đầu tiên "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Vậy nhân nghĩa ở đây có nghĩa là gì? Đó là an yên, hòa bình, là đem lại cho dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nguyễn Trãi đã khẳng định đây chính là một trong những trách nhiệm của người lãnh đạo đất nước. Phải đảm bảo cuộc sống cho dân, phải lo cho dân và phải giữ vững nền hòa bình. Ở những vần thơ tiếp theo, chúng ta đã bắt gặp chân lí độc lập của nước Đại Việt. Thi nhân đã viết "Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu....". Câu thơ ấy như thay lời tác giả, khẳng định chắc nịch về núi sông bờ cõi, ranh giới của nước Đại Việt. Nước chúng ta, nước những người được hưởng nền độc lập, tự do và không có kẻ nào có quyền xâm phạm. Hơn thế nữa, nước chúng ta không thua bất kì một cường quốc nào trên thế giới, phát triển ngang bằng với các cường quốc Tống, Bình, Nguyên. Qua đây, bản thân em thấy mình có một trách nhiệm to lớn đối với quốc gia, dân tộc. Đó là trách nhiệm giữ yên bờ cõi và đưa đất nước phát triển, sánh ngang với các cường quốc năm châu. Thật vậy, Bình Ngô đại cáo chính là áng văn chính luận mẫu mực và là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta.