Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 30
Số lượng câu trả lời 164
Điểm GP 0
Điểm SP 36

Người theo dõi (10)

Đang theo dõi (5)


Câu trả lời:

Sán lá máu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia   Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếmSchistosomaPhân loại khoa họcGiới (regnum)Ngành (phylum)Lớp (class)Bộ (ordo)Họ (familia)Chi (genus)Các loài
Schistosoma mansoni.jpgTrứng Schistosoma mansoni
Animalia
Platyhelminthes
Trematoda
Diplostomida
Schistosomatidae
Schistosoma
Weinland, 1858

Schistosoma bomfordi
Schistosoma bovis
Schistosoma curassoni
Schistosoma datta
Schistosoma edwardiense
Schistosoma guineensis
Schistosoma haematobium
Schistosoma harinasutai
Schistosoma hippopotami
Schistosoma incognitum
Schistosoma indicum
Schistosoma intercalatum
Schistosoma japonicum
Schistosoma kisumuensis
Schistosoma leiperi
Schistosoma malayensis
Schistosoma mansoni
Schistosoma margrebowiei
Schistosoma mattheei
Schistosoma mekongi
Schistosoma ovuncatum
Schistosoma nasale
Schistosoma rodhaini
Schistosoma sinensium
Schistosoma spindale

Schistosoma turkestanicum

Schistosoma là một chi sán lá, thường được gọi là sán lá máu. Chúng là các loài giun dẹp ký sinh gây ra một nhóm bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng ở con người gọi là bệnh sán máng, được Tổ chức Y tế Thế giới coi là bệnh ký sinh trùng gây tàn phá kinh tế-xã hội lớn thứ hai (sau bệnh sốt rét), với hàng trăm triệu người bị nhiễm trên toàn thế giới.[1][2]

Giun dẹp trưởng thành ký sinh vào các mao mạch máu của mạc treo hoặc đám rối của bàng quang, tùy thuộc vào loài lây nhiễm. Chúng là loài độc nhất trong số các loài sán lá và bất kỳ loài giun dẹp nào khác ở chỗ chúng là loài lưỡng tính với sự dị hình giới tính khác biệt giữa con đực và con cái. Hàng ngàn trứng được phóng thích và đến bàng quang hoặc ruột (tùy theo loài lây nhiễm), sau đó chúng được thải ra ngoài theo nước tiểu hoặc phân đến nước ngọt. Sau đó ấu trùng phải đi qua vật chủ trung gian là ốc sên, trước khi giai đoạn ấu trùng tiếp theo xuất hiện ký sinh trùng có thể lây nhiễm sang vật chủ động vật có vú mới bằng cách xâm nhập trực tiếp vào da.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]Schistosoma mansoni2.jpg  Schistosoma mansoni egg 4841 lores.jpg  Schistosomiasis Life Cycle.png  Bilharziose.png Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]^ “Schistosomiasis Fact Sheet”. World Health Organization. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.^ “Schistosomiasis”. Centers for Disease Control and Prevention. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
Hình tượng sơ khaiBài viết về chủ đề sinh học này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

Câu trả lời:

Sán bã trầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia   Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

 

FasciolopsisPhân loại khoa họcGiới (regnum)Ngành (phylum)Lớp (class)Phân lớp (subclass)Bộ (ordo)Phân bộ (subordo)Họ (familia)Chi (genus)Loài (species)Danh pháp hai phần
Fasciolopsis buski egg 08G0039 lores.jpgFasciolopsis buski egg
Animalia
Platyhelminthes
Trematoda
Digenea
Plagiorchiida (Echinostomida)
Echinostomata
Fasciolidae
Fasciolopsis
Looss, 1899
F. buski
Fasciolopsis buski
Morakote & Yano, 1990

Fasciolopsis (/ˌfæʃi[invalid input: 'ɵ']ˈlɒps[invalid input: 'ɨ']s/[1] hay /fəˌʃaɪ.[invalid input: 'ɵ']ˈlɒps[invalid input: 'ɨ']s/)[2] là một chi động vật. Chỉ có một loài được công nhận: Fasciolopsis buski, trong tiếng Việt gọi là sán bã trầu.

Mục lục1Fasciolopsis buski2Cách phòng tránh3Tham khảo4Liên kết ngoàiFasciolopsis buski[sửa | sửa mã nguồn] Giải phẫu chung của sán bã trầu.

Đây là một loài ký sinh trùng đáng chú ý có tầm quan trọng về y tế ở người và tầm quan trọng thú y ở lợn. Nó là loài ký sinh trùng phổ biến ở người và lợn và là phổ biến nhất ở miền Nam và Đông Nam Á. Sán bã trầu khác với hầu hết các loài sán sống ký sinh ở các loài động vật có vú lớn ở chỗ chúng sống trong ruột chứ không phải là gan như các loài FasciolaFasciolopsis buski thường xâm chiếm khu vực trên của ruột non, nhưng trong nhiễm nặng chúng cũng có thể được tìm thấy trong dạ dày và vùng dưới của ruột. Fasciolopsis buski là nguyên nhân của tình trạng bệnh lý bệnh sán lá ruột lợn (fasciolopsiasis).[3]

Tại London, George Busk lần đầu mô tả Fasciolopsis buski vào năm 1843 sau khi tìm thấy nó trong tá tràng của một thủy thủ. Sau nhiều năm nghiên cứu và tự thử nghiệm cẩn thận, năm 1925, Claude Heman Barlow đã xác định vòng đời của chúng trong con người.[4][5][6]

Sán bã trầu có tên khoa học là Fasiolopsis buski. Kích thước dài 2– 5 cm, rộng 8-20mm, dày 0,5-3mm. Đối tượng là người và lợn (ký sinh ở tá tràng người và ruột non lợn). Lây nhiễm qua đường tiêu hóa. Vật chủ trung gian là ốc gạo, ốc mút. Cơ quan sinh dục phát triển.

Cách tiêu diệt là uống thuốc tẩy sán.

Cách phòng tránh[sửa | sửa mã nguồn]Rửa rau sạch hoặc nấu chín khi ăn.Vệ sinh môi trường.Ăn chín uống sôi.Vệ sinh sạch sẽ. Tẩy sán 6 tháng 1 lần.