Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 1888
Số lượng câu trả lời 26169
Điểm GP 6285
Điểm SP 21745

Người theo dõi (706)

Đang theo dõi (26)

Tuyet
nguyễn khánh ly
Sun ...
qlamm
TV Cuber

Câu trả lời:

1. Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của phong trào Cần Vương (1885–1896)

- Hạn chế về đường lối và mục tiêu: Phong trào diễn ra dưới danh nghĩa “phò vua cứu nước”, nhằm khôi phục chế độ phong kiến, chưa có đường lối cách mạng đúng đắn, không đáp ứng yêu cầu lịch sử mới.

- Lực lượng lãnh đạo phân tán: Do các sĩ phu và văn thân phong kiến lãnh đạo, thiếu một tổ chức thống nhất, mạnh ai nấy đánh, không có sự phối hợp trên phạm vi cả nước.

- Trình độ tổ chức và vũ trang thấp: Nghĩa quân vũ khí thô sơ, chiến đấu chủ yếu bằng phương thức tự phát, trong khi thực dân Pháp có vũ khí hiện đại, tổ chức chặt chẽ.

- Cơ sở xã hội hạn chế: Phong trào chủ yếu dựa vào nông dân, chưa lôi cuốn được các giai cấp, tầng lớp mới như công nhân, tư sản (vốn đang hình thành).

- Sự đàn áp mạnh mẽ của thực dân Pháp: Pháp tiến hành bình định, chia rẽ, mua chuộc, đàn áp khốc liệt làm phong trào dần suy yếu và tan rã.

----

2. Những bài học lịch sử rút ra từ phong trào Cần Vương

- Muốn giành độc lập phải có đường lối cứu nước đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

- Cần có tổ chức lãnh đạo thống nhất, có chiến lược và sách lược rõ ràng, tránh đấu tranh tự phát, phân tán.

- Phải xây dựng lực lượng quần chúng rộng rãi, đoàn kết nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội.

- Cần chuẩn bị tốt về tổ chức, vũ trang và phương thức đấu tranh, kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh.

- Phong trào cho thấy tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam, là tiền đề cho các phong trào yêu nước theo khuynh hướng mới đầu thế kỉ XX.

Câu trả lời:

Nền nông nghiệp hiện đại (cơ giới hoá, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hoá, liên kết chuỗi…) đang tác động đến lao động và việc làm ở nước ta theo các hướng chính sau:

- Giảm nhu cầu lao động trực tiếp trong nông nghiệp: máy móc, giống mới, tưới tự động… thay thế nhiều khâu thủ công → giảm số lao động làm nông, nhất là lao động giản đơn.

- Tăng yêu cầu về chất lượng lao động: cần lao động có tay nghề/kỹ thuật, biết vận hành máy, áp dụng quy trình VietGAP/GlobalGAP, quản lí dịch bệnh, dùng công nghệ số… → thúc đẩy đào tạo nghề nông thôn.

- Tạo thêm việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn: phát triển chế biến nông sản, dịch vụ vật tư – máy nông nghiệp, logistics, thương mại, du lịch nông nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp… → đa dạng hoá việc làm.

- Thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hoá vùng: hình thành vùng chuyên canh, trang trại, doanh nghiệp lớn → lao động chuyển sang các vị trí kĩ thuật, quản lí, thu mua, chế biến thay vì chỉ sản xuất.

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động và di cư: lao động dư thừa ở nông thôn chuyển sang công nghiệp – dịch vụ hoặc ra đô thị/khu công nghiệp → vừa tăng cơ hội việc làm, nhưng cũng gây áp lực về nhà ở, an sinh, việc làm bền vững.

- Nguy cơ phân hoá việc làm/thu nhập: hộ có vốn – đất – kỹ thuật hưởng lợi nhiều; một bộ phận lao động ít kỹ năng dễ thiếu việc làm theo m

Câu trả lời:

Đề tài 4: Thành tựu ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh ung thư (ung thư máu/bạch cầu) Ung thư máu (bạch cầu) là bệnh ác tính nguy hiểm do rối loạn sinh sản của tế bào máu trong tủy xương. Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị nhằm thay thế hệ tạo máu bị bệnh và phục hồi chức năng tạo máu cho bệnh nhân. Tế bào gốc tạo máu được lấy từ tủy xương, máu ngoại vi hoặc máu cuống rốn của người hiến phù hợp hay của chính bệnh nhân. Trước khi ghép, bệnh nhân thường được hóa trị hoặc xạ trị liều cao để tiêu diệt tế bào ung thư và “dọn chỗ” cho tủy xương mới. Sau đó, tế bào gốc được truyền vào cơ thể, chúng di chuyển về tủy xương, phân chia và biệt hóa thành các tế bào máu khỏe mạnh. Nhờ đó, hệ miễn dịch và hệ tạo máu được tái lập, làm tăng cơ hội sống cho bệnh nhân, đặc biệt hiệu quả trong ung thư máu. Tuy nhiên, phương pháp có hạn chế như chi phí cao, kỹ thuật phức tạp và nguy cơ thải ghép hoặc biến chứng sau ghép. Dù vậy, đây là thành tựu quan trọng của công nghệ tế bào vì đã được áp dụng thực tế và mang lại giá trị lớn trong điều trị bệnh hiểm nghèo. Cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao hiệu quả, giảm biến chứng và giúp nhiều bệnh nhân có cơ hội tiếp cận hơn.