Nội dung lý thuyết
Ví dụ:
- Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín=> điệp ngữ (giữ)
- Tôi đi đứng oai vệ => nhân hóa (Dế Mèn)
- Vì sao Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh => hoán dụ (Trái Đất=con người)
Bài tập 1:
a. Điêp ngữ (súng, đầu); hoán dụ (đầu súng)
=> Khắc họa hình ảnh người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu, cũng là biểu tượng tình đồng chí của người lính.
b. Nhân hóa (Nhớ)
=> Tình thương nỗi nhớ của quê hương, gia đình dành cho người đi xa.
Dòng thơ làm nổi bật tâm trạng của người lính: Các anh ra đi với một ý chí quyết tâm mạnh mẽ, dứt khoát nhưng trong lòng không thôi xót xa bởi người thân vẫn còn sống trong hoàn cảnh nghèo khó; day dứt bởi biết họ thương nhớ mình khôn nguôi. Tâm tư thầm kín đó chỉ có những người đồng chí cùng cảnh ngộ mới có thể thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ.
Bài tập 2
- Từ đồng nghĩa với từ đôi trong dòng thơ “Anh với tôi đôi người xa lạ” là từ hai. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh cụ thể này, từ hai không thể thay cho từ đôi. Vì ngoài nghĩa chỉ số lượng giống từ hai, từ đôi còn có nghĩa chỉ hai cá thể tương ứng với nhau và làm thành một đơn vị thống nhất về vai trò, chức năng, không thể tách rời. Trong ngữ cảnh câu thơ, từ đôi được dùng để chỉ hai người có sự tương đồng (tương đồng về hoàn cảnh; chung chí hướng, lí tưởng), có chung một nhiệm vụ (chiến đấu giành độc lập cho đất nước).
Bài tập 3
a. Nét chung về nghĩa của các cụm từ in đậm trong hai dòng thơ là cùng chỉ những miền quê nghèo, thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống con người vất vả, khó khăn.
b. Nét chung về nghĩa của các cụm từ in đậm đã nói lên sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân giữa những người lính. Đó là một yếu tố giúp những người xa lạ gắn bó thành bạn tâm giao tri kỉ bởi sự tương đồng về hoàn cảnh giúp họ thấu hiểu, cảm thông cho nhau. Qua hai cụm từ đó, người đọc cũng cảm nhận được niềm xúc động sâu xa của nhà thơ trước hoàn cảnh sống lam lũ, cực nhọc của những người lính vốn là nông dân chân lấm tay bùn.
c. Cụm từ đất cày lên sỏi đá gợi liên tưởng đến thành ngữ chó ăn đá, gà ăn sỏi: chỉ nơi đất đai cằn cỗi, hoang vu
Bài tập 4
-Trong các từ xa lạ, tri kỉ, lung lay, chỉ có từ lung lay là từ láy. Hai từ xa lạ, tri kỉ có hiện tượng lặp vẫn nhưng không phải là từ láy vì cả hai tiếng tạo thành từ đều có nghĩa.
- Lung lay có nghĩa là lỏng lẻo, rung lắc, nghiêng bên này bên kia, không giữ nguyên thế đứng thẳng. Trong bài thơ Đồng chí, từ lung lay được dùng để miêu tả tình trạng đã cũ, không vững chãi, rung lắc mỗi khi có gió thổi mạnh của gian nhà trống trải, lâu ngày không được tu sửa nơi quê nhà của người lính. Từ đó, nói lên nỗi niềm xót xa thầm kín của người lính khi đi xa, để lại người thân chật vật lo toan cuộc sống vất vả, thiếu thốn nơi quê nhà.