Bài 29 : Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến kinh tế xã hội ở Việt Nam

Nội dung lý thuyết

Các phiên bản khác

BÀI 29: CHÍNH SÁCH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 

I. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914)

1. Tổ chức bộ máy nhà nước

- Sau khi đàn áp xong những cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914). Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, đứng đầu là viên toàn quyền người Pháp.

- Tổ chức bộ máy nhà nước từ trên xuống do Pháp chi phối. Việt Nam bị chia làm 3 xứ với 3 chế độ cai trị khác nhau: Nam Kì (thuộc địa), Trung Kì (bảo hộ), Bắc Kì (nửa bảo hộ). Xứ và các tỉnh đều do viên quan người Pháp cai trị.

- Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, làng xã. 

=> Nhìn chung bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương đều do thực dân Pháp chi phối nhằm tăng cường ách áp bức, kìm kẹp, để tiến hành khai thác Việt Nam, làm giàu cho tư bản Pháp.

*Nhận xét

- Chính sách của Pháp trong việc tổ chức bộ máy nhà nước vô cùng chặt chẽ, với tay xuống tận nông thôn.

- Kết hợp giữa thực dân và phong kiến cai trị.

2. Chính sách kinh tế

- Nông nghiệp:

+ Đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất. Ở Bắc Kì đến năm 1902, có tới 182.000 hécta ruộng đất bị Pháp chiếm.

+ Phát canh thu tô

- Công nghiệp: khai thác mỏ than và kim loại để xuất khẩu, đầu tư công nghiệp nhẹ như: sản xuất xi măng, gạch ngói, xay xát gạo, giấy, diêm...

- Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông để tăng cường bóc lột và đàn áp.

Cầu Long Biên (1898-1902)
Cầu Long Biên (1898 - 1902)

- Thương nghiệp: độc chiếm thị trường Việt Nam, đánh thuế nặng vào hàng hóa nước ngoài, có mặt hàng lên tới 120%, trong khi đó hàng hóa Pháp bị đánh thuế rất nhẹ hoặc được miễn thuế

- Trong khi đó, Pháp lại tăng thêm các loại thuế, thuế mới chồng thuế cũ, đặc biệt là thuế rượu, muối, thuốc phiện.

=> Kinh tế Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phụ thuộc, đời sống nhân dân khốn cùng.

3. Chính sách văn hoá, giáo dục

-  Duy trì nền giáo dục phong kiến.

-  Mở một số trường học và cơ sở y tế, văn hoá, đưa tiếng Pháp vào chương trình học bắt buộc ở bậc Trung học.

= >  Những chính sách của thực dân Pháp đã tạo ra tầng lớp tay sai, kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt. 

II.  Những biến chuyển của xã hội Việt Nam

1.  Các vùng nông thôn

*Giai cấp địa chủ phong kiến

-  Ngày càng đông đa phần đầu hàng, cấu kết, làm tay sai cho thực dân Pháp.

- Một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước.

*Giai cấp nông dân

- Bị bần cùng hoá, sống cơ cực, không lối thoát, họ bị mất đất.

Nông dân Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Nông dân Việt Nam trong thời Pháp thuộc

- Một bộ phận nhỏ trở thành tá điền, làm phu đồn điền cho Pháp.

- Một bộ phận phải “tha phương cầu thực”, ra thành thị làm nghề phụ như cắt tóc, kéo xe, ở vú,...Số ít thành công nhân, làm việc trong các nhà máy, hầm mỏ của tư bản.

công nhân khai mỏ thời Pháp
Công nhân Việt Nam thời Pháp thuộc

2.  Đô thị phát triển, sự xuất hiện các giai cấp, tầng lớp mới

-  Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX nhiều đô thị mới xuất hiện và phát triển nhanh: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Định, Vinh…

-  Một số giai cấp và tầng lớp mới xuất hiện:

+  Giai cấp tư sản (là các thầu khoán, đại lí, chủ xí nghiệp, chủ xưởng, chủ buôn bán) ra đời, nhưng luôn bị Pháp kìm hãm, bị lệ thuộc và yếu ớt về kinh tế.

+ Tầng lớp tiểu tư sản (xưởng thủ công, cơ sở buôn bán nhỏ,  nhà giáo, kế toán, học sinh,...) cũng ra đời, nhưng cuộc sống bấp bênh, họ sẵn sàng tham gia cách mạng.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và trưởng thành nhanh chóng, họ có tinh thần triệt để cách mạng.

Công nhân cạo mủ cao su thời Pháp thuộc
Công nhân cạo mủ cao su thời Pháp thuộc

3.  Xu hướng mới trong cuộc vận động giải phóng dân tộc

-  Đầu thế kỉ XX, tư tưởng dân chủ tư sản ở châu Âu được truyền bá vào Việt Nam qua sách báo của Trung Quốc.

-  Đặc biệt là sự thành công của Nhật Bản theo con đường tư bản chủ nghĩa đã  làm cho những trí thức Nho học tiến bộ Việt Nam lựa chọn con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.

* HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI 

1. Bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam được tổ chức như thế nào?

Trả lời 

- Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, đứng đầu là Toàn quyền người Pháp.

- Việt Nam bị chia thành 3 xứ với ba chế độ khác nhau:

  + Bắc Kì là xứ nửa bảo hộ.

  + Trung Kì theo chế độ bảo hộ.

  + Nam Kì theo chế độ thuộc địa.

  + Mỗi xứ gồm nhiều tỉnh.

  + Đứng đầu xứ và tỉnh là các viên quan người Pháp.

  + Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở ở Việt Nam vẫn là làng xã, do các chức dịch địa phương cai quản. Bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương cơ sở đều do thực dân Pháp chi phối.

2. Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Đông Dương?

Trả lời 

3. Qua sơ đồ trên, em có nhận xét gì về tổ chức bộ máy cai trị của thực dân Pháp?

Trả lời 

- Tổ chức bộ máy nhà nước chặt chẽ, với tay xuống tận vùng nông thôn.

- Kết hợp giữa nhà nước thực dân và quan lại phong kiến bản xứ.

- Toàn bộ hệ thống tổ chức bộ máy cai trị của thực dân Pháp từ chính quyền cơ sở đến trung ương đều do thực dân Pháp điều hành và chi phối.

4. Tại sao mãi đến đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp mới tiến hành khai thác Việt Nam một cách quy mô?

Trả lời 

Mãi đến đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp mới tiến hành khai thác Việt Nam một cách quy mô vì đến lúc này, thực dân Pháp mới dập tắt được các cuộc khởi nghĩa, căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam bằng quân sự và đặt xong bộ máy thống trị tại Việt Nam.

5. Nêu chính sách khai thác của thực dân Pháp trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp và tài chính?

Trả lời 

* Nông nghiệp

- Thực dân Pháp đẩy mạnh việc cướp đoạt ruộng đất.

- Ở Bắc Kì, chỉ tính đến năm 1902 đã có đến 182.00 hecta ruộng đất bị Pháp chiếm. Riêng Giáo hội Thiên Chúa đã chiếm 1/4 diện tích đất cày cấy ở Nam Kì.

- Bọn chủ đất mới vẫn áp dụng phương pháp bóc lột nông dân thay kiểu phát canh thu tô như địa chủ Việt Nam.

* Công nghiệp 

- Trong công nghiệp, trước hết thực dân Pháp tập trung vào khai thác than và kim loại.

- Năm 1912, sản lượng khai thác than đã tăng gấp 2 lần sản lượng năm 1903. Chỉ trong năm 1911, Pháp đã khai thác hàng vạn tấn quặng kẽm, hàng trăm tấn thiếc, đồng, hàng trăm kg vàng, bạc.

- Thực dân Pháp cũng đẩy mạnh khai thác các ngành sản xuất xi măng, gạch ngói, điện nước, chế biến gỗ, xay xát gạo, giấy, diêm, rượu, đường, vải sợi, .. và cũng thu được nguồn lợi nhuận lớn.

* Giao thông vận tải 

- Thực dân Pháp xây dựng hệ thống giao thông vận tải để tăng cường việc bóc lột kinh tế và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.

- Pháp đã xây dựng hệ thống đường bộ vươn tới những nơi xa xôi hẻo lánh.

(Mạng lưới đường thuỷ ven biển và kênh rạch ở Nam Kì cũng được khai thác triệt để).

- Đến năm 1912, hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 1059km.

* Thương nghiệp 

Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam (hàng hoá của Pháp nhập vào Việt Nam chỉ bị đánh thuế rất nhẹ hoặc được miễn phí. Trong khi đó hàng hoá của nước khác bị đánh thuế rất cao, có mặt hàng tới 120%. Hàng hoá của Việt Nam chủ yếu xuất sang Pháp).

* Tài chính 

Pháp tiến hành đánh các thuế mới, chồng lên các thuế cũ đã có từ trước khi Pháp tới. Nặng nhất là thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện.

6. Chính sách khai thác trên của thực dân Pháp nhằm mục đích gì?

Trả lời 

Thực chất các chính sách trên của thực dân Pháp là một cuộc ăn cướp trên quy mô lớn với những thủ đoạn trắng trợn như:

- Cướp đoạn ruộng đất để lập đồn điền trồng lúa, phát canh thu tô kiếm lời.

- Khai mỏ và mở một số nhà máy chế biến để vơ vét tài nguyên phong phú của Việt Nam, làm giầu cho nước Pháp.

- Tăng thuế cũ và đặt nhiều thứ thuế mới nhằm ăn cướp tiền bạc của nhân dân ta.

- Cưỡng đoạt sức lao động của nhân dân ta bằng cách bắt phu đi mở đường, đào sông, xây cầu, làm đường sắt để phục vụ việc khai thác thuộc địa và bóc lột của dân chúng, nhằm vơ vét sức người, sức của của nhân dân Đông Dương.

7. Chính sách khai thác của thực dân Pháp đã dẫn đến hậu quả gì đối với Việt Nam?

Trả lời 

Chính sách khai thác của thực dân Pháp đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với nước ta là:

- Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cùng kiệt.

- Nông nghiệp giẫm chân tại chỗ.

- Công nghiệp phát triển nhỏ giọt, thiếu hẳn công nghiệp nặng.

8. Tác hại của chính sách khai thác của thực dân Pháp đối với đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam như thế nào?

Trả lời 

- Làm cho nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào kinh tế Pháp, công thương nghiệp không phát triển được.

- Nền kinh tế Việt Nam cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phụ thuộc.

- Đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân và nông dân Việt Nam cực khổ và bị bần cùng hoá.

9. Thưc dân Pháp đã thực hiện chính sách văn hoá, giáo dục như thế nào?

Trả lời 

- Cho đến năm 1919, Pháp vẫn duy trì chế độ giáo dục thời phong kiến, song trong một số kì thi có thêm môn tiếng Pháp.

- Về sau, do nhu cầu học tập của các con em quan chức thực dân và cũng để tạo một lớp người bản xứ phục vụ cho công việc cai trị, chính quyền Pháp ở Đông Dương bắt đầu mở trường học mới cùng một số cơ sở văn hoá, y tế.

10. Mục tiêu của những chính sách về văn hoá, giáo dục của thực dân Pháp là gì?

Trả lời 

Mục tiêu của những chính sách về văn hoá, giáo dục của thực dân Pháp là

- Thông qua giáo dục phong kiến, thực dân Pháp muốn tạo ra một lớp người chỉ biết phục tùng.

- Triệt để sử dụng phong kiến Nam triều, dùng người Việt trị người Việt.

- Kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để dễ bề cai trị.

11. Thực dân Pháp đã thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông ở nước ta như thế nào?

Trả lời 

- Bậc Ấu học ở xã thôn (dạy chữ Hán và Quốc ngữ).

- Bậc Tiểu học ở phủ, huyện (dạy chữ Hán và Quốc ngữ, chữ Pháp là môn tự nguyện).

- Bậc Trung học ở tỉnh (dạy chữ Hán, Quốc ngữ và chữ Pháp bắt buộc).

12. Theo em, chính sách giáo dục, văn hoá của Pháp có phải để "khai hoá văn minh" cho người Việt Nam không? Vì sao?

Trả lời 

Chính sách giáo dục, văn hoá của Pháp không phải để "khai hoá văn minh"cho người Việt Nam vì:

- Ở giai đoạn đầu thế kỉ XX, Pháp duy trì nền giáo dục Hán học, lợi dụng hệ tư tưởng phong kiến và trí thức cựu học để phục vụ chế độ mới.

- Từ năm 1905, chính quyền thực dân Pháp chủ trương cải cách giáo dục, ngoài 3 bậc : Ấu học, Tiểu học, Trung học còn đặt thêm bậc Tiểu học bổ sung (bậc Thành chung), sửa lại nền Hán học cũ cho phù hợp trên cơ sở tăng thêm phần tiếng Pháp. Ngoài ra còn mở thêm các trường sư phạm ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Gia Định. Các trường chuyên nghiệp học nghề, trường kĩ thuật thực hành, trường mĩ thuật, trường thợ mãy, trường y sĩ (Hà Nội).

- Cuối năm 1907, Pháp mở trường Đại học Đông Dương nhằm đào tạo một tầng lớp tân học, "thượng lưu trí thức mới" sẵn sàng cộng tác với Pháp. Năm 1908, trường này bị đóng cửa.

- Nhìn chung, đường lối của Pháp là hạn chế phát triển giáo dục ở thuộc địa, các trường học chỉ được mở một cách dè dặt, số trẻ được đến trường rất ít, càng ở các lớp cao, số học sinh càng giảm dần.

- Ngoài ra, thực dân Pháp còn sử dụng nhiều phương tiện như báo chí, sách vở có nội dung độc hại để tuyên truyền. Các thói hư tật xấu vẫn được duy trì như uống rượu, nghiệt hút, hủ tục ma chay, cưới xin, hương ẩm, đồng bóng, mê tín dị đoan....

13. Chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân có sự thay đổi như thế nào?

Trả lời 

* Địa chủ phong kiến:

- Bộ phận quan lại địa chủ không bị xoá bỏ, ngược lại, số lượng ngày càng đông thêm, địa vị kinh tế và chính trị được tăng cường.

- Giai cấp địa chủ phong kiến Việt nam nói chung đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp.

- Giai cấp địa chủ phong kiến Việt nam cũng có sự phân hoá:

  + Một bộ phận câu kết với đế quốc để áp bức, bóc lột nhân dân.

  + Một số địa chủ vừa và nhỏ còn có tinh thần yêu nước.

* Nông dân:

Cuộc sống của người nông dân cơ cực trăm bề và không có lối thoát: 

- Họ bị thực dân và địa chủ phong kiến tước đoạt ruộng đất.

- Họ phải gành chịu rất nhiều thứ thuế và vô số các khoản phụ thu của chức dịch trong các làng.

- Nông dân Việt Nam bị bần cùng hoá và phá sản.

14. Dưới chính sách khai thác của Pháp, đời sống của người nông dân bị xáo trộn ra sao?

Trả lời 

Nông dân Việt Nam bị bần cùng hoá, phá sản và có nhiều sự thay đổi:

- Một số ở lại nông thôn làm tá điền cho địa chủ.

- Một số bỏ đi làm phu cho các đồn điền Pháp.

- Một số khác ra thành thị kiếm ăn bằng những nghề phụ như cắt tóc, kéo xe hoặc làm bồi bếp, con sen, vú ở.

- Một số rất nhỏ làm công ở các nhà máy, hầm mỏ của tư bản Pháp và Việt Nam.

15. Thái độ của nông dân đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc như thế nào?

Trả lời 

Nông dân Việt Nam căm ghét chế độ bóc lột của thực dân Pháp, cộng với tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc sâu sắc, học sẵn sàng hưởng ứng, tham gia các cuộc đấu tranh do bất kì cá nhân, tổ chức, tầng lớp hoặc giai cấp nào đề xướng nhằm giúp họ giành được cuộc sống tự do và no ấm, hạnh phúc.

16. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các đô thị Việt Nam phát triển như thế nào?

Trả lời 

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các đô thị Việt Nam ra đời và phát triển ngày càng nhiều. Ngoài Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn - Chợ Lớn còn có Nam Định, Hòn Gia, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Biên Hoà, Mĩ Tho...

17. Vì sao đến đầu thế kỉ XX, đô thị ở Việt Nam lại ra đời và phát triển nhanh chóng?

Trả lời 

Đô thị ra đời và phát triển là do quá trình đẩy mạnh công cuộc khai thác, đầu tư của Pháp ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX.

18. Các đô thị Việt Nam đầu thế kỉ XX có gì khác so với các đô thị trong thế kỉ XIX?

Trả lời 

- Các đô thị đầu thế XX là các trung tâm hành chính, tập trung các cơ sở sản xuất, dịch vụ, là đầu mối chính trị trong cả nước.

- Còn các đô thị trong thế kỉ XIX chỉ là các trung tâm hành chính đơn thuần.

19. Cùng với sự phát triển của đô thị, có các giai cấp và tầng lớp nào ra đời?

Trả lời 

Cùng với sự phát triển của đô thị, trong xã hội Việt Nam xuất hiện thêm các giai cấp và tầng lớp mới như:

- Tầng lớp tư sản Việt Nam.

- Tầng lớp tiểu tư sản thành thị.

- Giai cấp công nhân Việt Nam.

20. Tầng lớp tư sản Việt Nam bao gồm những thành phần nào?

Trả lời 

Tầng lớp tư sản Việt Nam đầu thế kỉ XX bao gồm các nhà thầu khoán, đại lí, chủ xí nghiệp, chủ xưởng thủ công, đông nhất là các chủ hãng buôn bán.

21. Địa vị và thái độ chính trị của tầng lớp tư sản Việt Nam như thế nào?

Trả lời 

- Tầng lớp tư sản Việt Nam bị các nhà tư bản Pháp chèn ép, chính quyền thực dân kìm hãm.

- Song do bị lệ thuộc, yếu ớt về mặt kinh tế nên họ sớm mong muốn có những thay đổi nhỏ để dễ bề làm ăn sinh sống, chứ chưa tỏ thái độ hưởng ứng hay tham gia các cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX.

22. Tầng lớp tiểu tư sản thành thị bao gồm những thành phần nào?

Trả lời 

Tầng lớp tiểu tư sản thành thị bao gồm các xưởng thủ công nhỏ, cơ sở buôn bán nhỏ, những viên chức cấp thấp như thông ngôn, nhà giáo, thư kí, kế toán, học sinh.

23. Địa vị và thái độ chính trị của tầng lớp tiểu tư sản thành thị?

Trả lời 

- Cuộc sống của tầng lớp tiểu tư sản thành thị có phần dễ chịu hơn nông dân, công nhân song vẫn bấp bênh.

- Họ là những người có ý thức dân tộc, đặc biệt là các nhà giáo, thanh niên, học sinh, nên tích cực tham gia vào các cuộc vận động cứu nước đầu thế kỉ XX .

24.Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành như thế nào?

Trả lời 

- Ở Việt Nam, công nhân xuất hiện ngay từ cuối thế kỉ XIX, cùng với quá trình du nhập phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa vào Việt nam của thực dân Pháp.

- Đầu thế kỉ XX, do Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa nên số lượng công nhân tăng nhanh (có khoảng 10 vạn người).

- Phần lớn công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân, không có ruộng đất nên tìm đến các hầm mỏ, nhà máy, đồn điền...xin là công ăn lương.

25. Địa vị và thái độ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam?

Trả lời 

- Công nhân và gia đình họ bị thực dân phong kiến và tư sản bóc lột nên họ sớm có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống bọn chủ, đòi cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt (tăng lương, giảm giờ làm..).

- Giai cấp công nhân Việt Nam là một giai cấp cách mạng, có tinh thần kiên quyết đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.

26. Lập bảng thống kê tình hình các giai cấp tầng lớp trong xã hội Việt nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX?

Trả lời 

Giai cấp, tầng lớp 

Nghề nghiệp

Thái độ đối với độc lập dân tộc

Địa chủ phong kiến

Kinh doanh ruộng đất, bóc lột, địa tô

Đánh mất ý thức dân tộc, làm tay sai cho đế quốc

Nông dân

Làm ruộng, đóng mọi thứ thuế

Có ý thức dân tộc dân tộc sâu sắc, sẵn sàng hưởng ứng, tham gia các cuộc đấu tranh

Công nhân

Bán sức lao động, làm thuê

Kiên quyết chống đế quốc, giành độc lập, xoá bỏ chế độ phong kiến. Họ là lực lượng lãnh đạo cách mạng

Tư sản

Kinh doanh công thương nghiệp

Chưa có thái độ hưởng ứng hay tham gia các cuộc vận động cách mạng đầu thế kỉ XX

Một bộ phân có ý thức dân tộc, nhưng cơ bản là thoả hiệp với đế quốc

Tiểu tư sản

Làm công, ăn lương, buôn bán nhỏ

Có ý thức dân tộc, tích cực tham gia vào các cuộc vận động cứu nước đầu thế kỉ XX

27. Điểm gì mới trong xu hướng cứu nước ở nước ta vào đầu thế kỉ XX là gì?

Trả lời 

Điểm gì mới trong xu hướng cứu nước ở nước ta vào đầu thế kỉ XX là đi theo con đường dân chủ tư sản.

28. Vì sao đầu thế kỉ XX, ở nước ta xuất hiện xu hướng mới?

Trả lời 

- Vào những năm đầu thế kỉ XX, các tư tưởng dân chủ tư sản ở châu Âu được truyền bá vào nước ta qua sách báo của Trung Quốc.

- Ở trong nước, cuộc vận động cứu nước ở nước ta có thể đi theo con đường dân chủ tư sản là vì xã hội Việt Nam lúc này có thể chấp nhận được xu hướng mới(do xã hội đã có cơ sở kinh tế và cơ sở giai cấp mới).

29. Tầng lớp nào trở thành lực lượng đi đầu trong cuộc vận động của nước ta theo con đường dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX?

Trả lời 

Những tri thức Nho học tiến bộ Việt Nam là lực lượng đi đầu trong cuộc vận động cứu nước theo con đường dân chủ tư sản vì họ có lòng yêu nước nồng nàn và có sự hiểu biết sâu rộng.

30. Tại sao các nhà yêu nước ở Việt Nam thời bấy giờ muốn noi theo con đường cứu nước của Nhật Bản?

Trả lời 

Các nhà yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX muốn noi theo con đường cứu nước của Nhật Bản vì:

- Nhật Bản là một nước châu Á, có điều kiện tự nhiên và xã hội gần giống Việt Nam.

- Đầu thế kỉ XX, Nhật Bản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trở nên giàu mạnh nên đã kích thích nhiều nhà yêu nước Việt Nam muốn đi theo con đường của họ.

31. So sánh xu hướng cứu nước đầu thế kỉ XX với xu hướng cứu nước cuối thế kỉ XIX.

Trả lời :

Nội dung so sánh

Xu hướng cứu nước cuối TK XIX

Xu hướng cứu nước đầu TK XX

Mục đích

Đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, xây dựng lại chế độ phong kiến

Đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, kết hợp với cải cách xã hội, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ cộng hoà (tư sản)

Thành phần

Văn thân, sĩ phu phong kiến yêu nước

Tầng lớp Nho học trẻ đang trên con đường tư sản hoá

Hình thức hoạt động

Vũ trang

Vũ trang, tuyên truyền giáo dục, vận động cải cách xã hội, kết hợp lực lượng bên trong và bên ngoài

Tổ chức

Theo lề lối phong kiến

Bước đầu đấu tranh giai cấp thành tổ chức chính trị sơ khai

Lực lượng tham gia

Đông nhưng hạn chế

Nhiều tầng lớp, giai cấp, thành phần xã hội

 

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN