Văn mẫu 11

Minh Nguyệt
Minh Nguyệt CTV 2 tháng 10 2020 lúc 22:14

Tham khảo:

Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài quen thuộc của văn học dân gian. Mảng đề tài đầy cảm hứng nhân văn này đã làm nên giá trị của nền văn học nói chung, gương mặt của các tác giả nói riêng. Tiêu biểu là Hồ Xuân Hương với “Tự Tình II” (II) và Tú Xương với “Thương Vợ”.

Đúng như vậy, hai bài thơ với hai người phụ nữ đều khát khao một mái ấm gia đình. Xong cuộc đời lại lắm éo le trắc trở. Họ phải chịu đựng số phận hẩm hiu chế độ phong kiến mục nát. Cái chế độ mà khi nhắc tới ai ai cũng thấy bất bình tĩnh. Là phụ nữ thì sao chứ? Chẳng lẽ phụ nữ không phải con người trong xã hội? Hà cớ gì cứ phải bắt người phụ nữ làm những thứ họ không muốn từ những hủ tục lạc hậu: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có quyền hành gì trong gia đình.

Trước hết, thơ của Hồ Xuân Hương là những lời than thân từ nỗi niềm riêng của một cá thể, chất chứa những vấn đề mang tầm phổ quát của thân phận người phụ nữ. Hay nói cách khác, bằng việc viết lên tiếng nói cá nhân. Hồ Xuân Hương làm sống lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa. “Tự Tình II” (II) nằm trong chùm thơ Tự Tình II gồm ba bài viết bằng chữ Nôm. Đó là sự đau khổ vì không là chủ được thân phận mình. Trong khung cảnh lúc nửa đêm nổi bật chỉ là âm thanh “văng vẳng” của trống canh dồn, tiếng trống dồn dập, gấp gáp như hối thúc dội vào lòng người. Âm thanh văng vẳng không chỉ đơn thuần là sự cảm nhận bằng thính giác mà còn là cảm nhận của xúc giác về thời gian. “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. Nhức nhối một tâm sự “trơ cái hồng nhan với nước non”. vẻ đẹp của người phụ nữ trong đêm trơ trọi, im ắng, gợi lên hình ảnh “hồng nhan” trở nên rẻ rúng, không có giá trị. Chắc hẳn ai trong tình cảnh của Hồ Xuân Hương cũng cảm thấy quạnh hiu, đau nhói, buồn phiền. Hình ảnh “cái hồng nhan” với “nước non” càng cho thấy tâm trạng bẽ bàng tủi hổ của người phụ nữ. Cùng với nỗi buồn đè nặng lên con người nhỏ bé trong xã hội, đè lên thân phận của họ. Hồ Xuân Hương là con người rất mạnh mẽ, bà không cam chịu và muốn thoát khỏi. “Chén rượu hương đưa” là một phương tiện giải sầu, tuy không phải phương tiện duy nhất nhưng là tốt nhất vào lúc này. Tìm quên trong chén rượu, say rồi lại tỉnh, càng uống càng nhận thức mọi thứ rõ ràng hơn. Nó như một vòng luẩn quẩn khiến người phụ nữ ấy nhận ra sự cô đơn trĩu nặng hơn. Hướng tới vầng trăng mong tìm người bạn tri âm tri kỉ giữa đất trời nhưng “khuyết chưa tròn” lại còn “bóng xế”. Ngoại cảnh và con người g đây như một. Người phụ nữ tự hỏi đến bao giờ trăng mới tròn. đến bao giờ người mới có được tình yêu cho mình. Trăng đã sắp tàn mà vẫn chưa tròn, tuổi xuân qua đi mà nhân duyên chưa tới. Người phụ nữ đang chơi vơi giữa một thế giới mênh mông, hoang vắng, muốn thoát khỏi nhưng bất lực trước nỗi cô đơn trơ trọi với chính mình.

Đến với Tú Xương là đến với những bài thơ tràn đầy tình yêu thương, cảm động viết về người vợ đang còn sống. Bài thơ “Thương Vợ” thể hiện tâm thế và vị thế của một người mẹ, một người vợ đảm đang. Bà Tú có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được. Vì chồng, thương con mà cam chịu cuộc sống khó khăn vất vả. Quanh năm suốt tháng, ngày này qua ngày khác không có lấy một ngày nghỉ, ngày mưa cũng như ngày nắng, Bà Tú lam lũ buôn bán trên một mảnh đất nhô lên ở lòng sông. Cái nơi bấp bênh, gập ghềnh hiện lên hình ảnh tần tảo, tất bật ngược xuôi của bà Tú. “Quanh buôn bán ở mom sông”. Cái nền không gian, thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà Tú được ông Tú phác họa. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”. Hình ảnh “thân cò” là hình ảnh tượng trưng cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Ông Tú đã dùng hình ảnh đó để nói về nỗi vất vả của bà Tú, đồng thời cũng gợi lên số kiếp, nỗi đau thân phận. Thân cò “lặn lội” trong một khoảng không gian “khi quãng vắng” vừa chỉ ra cái rợn ngợp của thời gian, vừa chỉ ra cái rợn ngợp của không gian. Hình ảnh bà Tú trở nên rõ nét hơn về sự vật lộn với cuộc sống. “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Cảnh bươn chải, chen chúc nhau của những người buôn bán rất khó khăn. “Buổi đò đông” đâu có giống như “khi quãng vắng”. Nó không chỉ có những lời cãi cọ, mè nheo, sự chen lấn xô đẩy mà còn có những bất trắc nguy hiểm. Biết là vậy nhưng bà Tú vẫn đi trên chuyến đò đó để dành miếng cơm manh áo cho chồng con. Dù vắng hay đông bà Tú cũng thui thủi một “thân cò”.

Tuy rằng số phận ràng buộc họ nhưng nhờ đó những phẩm chất cao quý của người phụ nữ được hiện diện.

Dù đau đớn thế nào, dù yếu ớt đến đâu thì trong sâu thẳm trái tim Hồ Xuân Hương cũng ánh lên ngọn lửa khao khát, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình. “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám./Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”. Tâm trạng con người như muốn nói lên nỗi phẫn uất, ngang ngạnh, bướng bỉnh. Thiên nhiên trong mắt Hồ Xuân Hương tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mạnh mẽ. “Rêu”, “đá” chỉ là những vật nhỏ bé, hèn mọn nhưng không hề yếu đuối bởi rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây. Điều đó càng chứng tỏ Hồ Xuân Hương muốn bứt phá rào cản để đi tìm hạnh phúc cho mình, muốn giải thoát số phận hoàn cảnh, thể hiện cá tính táo bạo của nữ sĩ. Tuy lòng đầy canh cánh nhưng bà vẫn nhìn cảnh vật với con mắt yêu đời. Yêu đời là thế, sức sống là thế mà cuộc đời riêng thì vẫn “xuân đi xuân lại lại”. Cái vòng quẩn quanh đáng ghét của cuộc đời không thể tránh khỏi tiếng thở than chua xót. Càng chua xót hơn khi giữa cái tuần hoàn thời gian ấy là một “mảnh tình” nhỏ vụn đã vỡ nhưng nay vẫn bị sẻ đi sẻ lại. Đối với trái tim thiết tha yêu thương kia, điều đó như một vết thương cứa sâu đau nhức nhối, khao khát một tình yêu trọn vẹn.

Dù có vất vả, đau xót, chán chường đến thế nào thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có phẩm chất đẹp đẽ. Không chỉ vẻ bề ngoài mà còn cả bên trong. Đó là lòng yêu thương, lòng nhân hậu, một lòng một dạ vì chồng vì con. “Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Nuôi đủ năm con” là việc hiển nhiên của một người mẹ nhưng còn chồng, cớ sao lại phải đếm “một chồng”? Là vì chồng, bà Tú cũng phải nuôi và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cần thiết cho ông Tú. Bà Tú phải thắt lưng buộc bụng nuôi dưỡng năm đứa trẻ vất vả, vậy mà phải nuôi thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng đè lên đôi vai nhỏ của bà tăng gấp đôi. Sự khéo léo. Đảm đang của bà thể hiện ở việc lựa chọn ông Tú mà sống, khéo léo chiều sự khó tính khó nết của ông để trong ấm ngoài êm. Bà Tú nhẫn nhục chịu đựng cái nợ đời như một sự tất yếu không thể không chấp nhận. “Một duyên hai nợ âu đành phận”. Điều kì diệu là người mẹ, người vợ này không hề ý thức rằng đó là sự hi sinh. Sự vất vả “năm nắng mười mưa” càng thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con mà bà đâu “dám quản công” một lời. Bà tự nguyện gánh vác trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Dù vất vả trăm điều nhưng bà vẫn âm thầm chịu đựng. Phải chăng đó chính là đức hi sinh – vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam?

Hai người phụ nữ đẹp đều tìm thấy sức mạnh, ý chí để vượt lên hoàn cảnh. Nhưng trong cuộc thoát thân họ còn cô đơn quá, vì thế mà thất bại. Một người muốn bứt phá, thoát khỏi cuộc sống ngột ngạt. Một người cam chịu , nhẫn nại để làm tròn bổn phận một người mẹ, một người vợ. Một người được đồng cảm, sẻ chia. Một người cô đơn một mình, buồn đau trước số phận hẩm hiu. Chỉ khi những người phụ nữ biết đoàn kết, biết đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng họ mới có thể thay đổi được số phận, làm chủ được cuộc đời mình.

Người phụ nữ thời xưa phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công, ngang trái và bị hạn chế bởi xã hội phong kiến. Còn người phụ nữ ngày nay được quyền bình đẳng, quyền học tập, quyền lựa chọn tình yêu và quyền làm chủ cuộc đời. Họ không còn bị đối xử như trước nữa. Tuy người phụ nữ ngày xưa có cuộc đời éo le nhưng hình ảnh sâu thẳm trong họ không bao giờ bị mất đi. Dù hoàn cảnh có ra sao thì tâm hồn cao đẹp của họ vẫn sáng lên. Và điều đó khiến ta luôn tự hào về người phụ nữ Việt Nam.

Bình luận (0)
Julian Edward
Julian Edward 11 tháng 7 2020 lúc 15:25

"Thầy là gương đời hy vọng Soi đường cho chúng con đi Rọi xa ấm ngàn tia nắng Lung linh tỏa sáng diệu kỳ"

Mỗi người thầy như một đoá hoa rạng rỡ và sáng tươi nhất. Em luôn kính yêu và trân trọng sự hy sinh và tận tâm của những người giáo viên. Có một người thầy để lại ấn tượng sâu đậm trong tim em đó là thầy An- người giáo viên chủ nhiệm năm lớp 5.

Thầy có vóc người cao gầy, đã vào tuổi tứ tuần nên những nếp nhăn trên trán thầy ngày một hằn rõ. Đôi mắt hiền từ cùng nụ cười đầy ấm áp của thầy luôn khiến mình cảm thấy vô cùng gần gũi. Giọng nói của thầy thật truyền cảm, những lần thầy đọc thơ luôn thu hút và hấp dẫn chúng mình, giọng nói ấy có lẽ là điều ấm áp từ thầy mà em chẳng thể nào quên. Mỗi ngày đến lớp, thầy luôn gọn gàng trong những chiếc sơ mi sáng màu cùng quần âu lịch sự. Chúng em hay bảo nhau rằng, thầy là con trai mà có gì thẫm mỹ rất tốt, chọn bộ đồ nào cũng rất đẹp, giản dị mà đứng đắn.

Nếu có ai hỏi về tính cách thầy thì em sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng thầy rất tốt bụng. Nhớ những lần tớ thiếu cái bút, cuốn tập thầy đều trích đồng lương ít ỏi ấy để mua tặng, em không có tiền mua thuốc cho mẹ thầy cũng chẳng đắn đo mà chở em tới hiệu thuốc mua để biếu mẹ. Điều đó, với em là cả một tấm lòng lớn mà không phải ai cũng có thể làm được. Bởi vậy mà trong ánh mắt lũ học trò chúng em, thầy luôn tuyệt vời và hoàn hảo nhất. Với em thầy như một người cha thứ hai của mình vậy.

Với thầy An, em luôn kính yêu thầy và dành cho thâỳ những tình cảm trân trọng nhất. Một người thầy chẳng giàu có, thậm chí còn những khó khăn khi phải lo cho gia đình, con cái, nhưng vẫn chẳng bao giờ từ chối sự giúp đỡ một ai. Một người thầy mà dẫu học sinh có những lỗi lầm, thiếu sót thầy không trách mắng mà uốn nắn chúng em bằng sự bao dung, vị tha của mình. Một người thầy luôn bảo ban, dành cho chúng em những lời khuyên quý giá trong cuộc sống này. Thật may mắn biết bao khi mình được học và được là học sinh của thầy.

Ngày gặp lại thầy trong lễ nhà giáo vừa rồi, em càng thương thầy hơn. Thời gian đã vô tình lấy đi nhiều thứ trên gương mặt thầy nhưng vẻ điềm tĩnh cùng trái tim ấm áp nơi thầy vẫn còn đó. Em biết rằng những lo toan cuộc sống cùng những cô cậu học trò nghịch ngợm có khi khiến thầy mệt mỏi nhưng sau cùng thầy vẫn ở đó, bao dung và thương những cô, cậu trò nhỏ vô ngần.

"Chúng con mai dù khôn lớn Với thầy như vẫn trẻ thơ Không quên những lần lầm lỗi Khắc ghi bao phút dại khờ"

Thầy ơi, mai này dẫu có sao đi nữa, dẫu khoảng cách có xa xôi chừng nào còn vẫn luôn nhớ về thầy. Người thầy năm xưa đã dìu dắt con qua những bước khó khăn trong đời.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thảo Phương 10 tháng 6 2020 lúc 21:29

Nhân vật Bê-li-cốp là một kẻ trong bao. Hắn giống như một con rùa, con ốc sên mang trên mình vỏ bọc của cái xã hội chuyên chế Nga Hoàng thời ấy. Thậm chí ngay cả vào những ngày nắng đẹp trời hắn vẫn cầm ô, đi giày cao su và mặc chiếc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bai, cái đồng hồ quả quý hắn cũng để trong bao bằng da hươu và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao. Cả bộ mặt hắn nữa dường như cũng ở trong bao khi lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc áo bành tô bẻ cứng. Cho đến khi hắn bị một kẻ trêu trọc về một cái tranh biếm họa “một kẻ si tình”. Ngay hôm sau khi nhìn thấy hai chị em Varenca và Covalenco đi xe đạp mặc váy. Không thể chấp nhận được hình ảnh ấy và hắn đến nhà Covalenco đề nghị xem lại bản thân hai chị. Khi bị dúi ngã thì có người đã nhìn thấy vì quá xấu hổ nên hắn đã chạy một mạch về nhà và rúc trong chăn. Một tháng sau thì hắn chết một cách đầy bất ngờ khiến cho ai trong phố cũng vui mừng nhưng khoảng một tuần sau thì cả khu phố lại quay về với không khí nặng nề như trước.

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN