Hướng dẫn soạn bài Thuế máu - trích

Khánh Ly
20 tháng 5 2020 lúc 1:11

Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này, tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bài thơ Sông núi nước Nam, thì ở Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X

Bình luận (0)
Khánh Ly
20 tháng 5 2020 lúc 1:12

Nguyễn Trãi đã đưa ra năm yếu tố cơ bản để khẳng định sự tồn tại có chủ quyền của nước Đại Việt. Nền độc lập của ta được dựa trên: văn hiến, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, truyền thống lịch sử và chủ quyền riêng “mỗi bên xưng đế một phương”

400 năm trước, trong Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt, chủ quyền được khẳng định trên 2 phương diện: bờ cõi, vua được ghi trong sách trời – lực lượng siêu nhiên thần bí.Ở đây, Nguyễn Trãi lại khẳng định chủ uqyền dựa trên 5 yếu tố. Ông đã hoàn thiện quan niệm về quốc gia, dân tộc. Đây là bước tiến dài so với bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất – Nam quốc sơn hà.

Bình luận (0)
Lê Thị Hải
20 tháng 5 2020 lúc 9:33
TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI TS. Nguyễn Minh Hoàn Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Trong truyền tư tưởng của người Việt Nam, tư tưởng nhân nghĩa là một trong những tư tưởng cốt lõi phản ánh vào đó một hệ thống các quan điểm về triết lý nhân sinh, triết lý xã hội, triết lý chính trị, triết lý quân sự, triết lý ngoại giao,... Tư tưởng nhân nghĩa đạt đến một bước phát triển mới ấy đã được thể hiện trong tư tưởng của Nguyễn Trãi. Cũng chính tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đã phát triển ấy từ truyền thống tư tưởng nhân nghĩa trong văn hoá Trung Hoa đã góp vào việc nâng tầm tư duy truyền thống của người Việt Nam hướng đến chủ nghĩa nhân đạo. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi (1380–1442) được hình thành từ một hệ thống các quan điểm của triết lý nhân sinh, triết lý xã hội, triết lý chính trị, triết lý quân sự, triết lý ngoại giao,. . . và là tất cả những triết lý trong một thể thống nhất ấy lại được bao trùm bởi cả một vũ trụ quan ông. Như vậy, tư tưởng của Nguyễn Trãi là sự thống nhất giữa đạo trời và đạo người thể hiện chung ở chủ nghĩa nhân đạo. Hệ thống các quan điểm trong tư tưởng của Nguyễn Trãi là kết quả của sự kế thừa quan điểm triết học truyền thống phương Đông nói chung, của dân tộc nói riêng. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã trở thành một tư tưởng nhân nghĩa tiêu biểu nhất của truyền thống tư tưởng dân tộc, bởi nó chính là sự hội tụ những tư tưởng nhân nghĩa của dân tộc truyền lại, rồi tiếp tục lưu chảy trong truyền thống tư tưởng nhân nghĩa của người Việt Nam sau này. Tư tưởng nhân nghĩa ấy của Nguyễn Trãi đã được thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu của ông như: Quân trung từ mệnh tập,Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí. Trước hết, tư tưởng nhân nghĩa vẫn luôn thể hiện tư tưởng nhân nghĩa truyền thống, bởi nhân nghĩa vẫn là cái gốc của đạo trời, nên "Bại nghĩa thương nhân, trời đất cơ hồ muốn dứt" (Bình Ngô đại cáo). Nhân nghĩa cũng vẫn là cái gốc của đạo người lãnh đạo, người cai trị dân, vì: "Đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc"; cho nên đó cũng chính là cái gốc của sự ứng xử của người lãnh đạo, của bậc quân vương đối với người dân: "Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, viện công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu" (Lại thư trả lời Phương Chính). Mục đích "an dân" được thực ở người quân tử theo đạo trời để bảo vệ sự sống (an dân), rằng: "đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân" (Thư dụ hàng (các tướng sĩ) thành Bình Than). Phải chăng đây vẫn là sự thể hiện tư tưởng mà trong Kinh dịch, Hệ từ hạ đã viết (thiên địa chi đại đức viết sinh). Lòng nhân nghĩa đó trong tư tưởng của Nguyễn Trãi chính là sức mạnh bảo vệ quốc gia dân tộc, được thể hiện bởi vai trò của bậc trung quân ái quốc. Đây cũng là tư tưởng đã được thể hiện trước đó ở thời kỳ chống sự xâm lược của nhà Nguyên. Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn) cũng nhấn mạnh: "Tự cổ các bậc nghĩa sĩ trung thần đã từng diệt thân để cứu nước" (Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi). Trong thực tiễn của lịch sử dân tộc Việt Nam, lúc tình huống càng nguy cấp trước sự xâm lược, thì càng là lúc mà lòng nhân nghĩa thể hiện được sức mạnh to lớn, và vẫn tất yếu giành được thắng lợi: "Chính lúc cờ nghĩa nổi lên, đương khi thế giặc mạnh" (nghĩa kỳ sơ khởi chi thời, chính tặc thế phương trương chi nhật, Bình Ngô đại cáo); "kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh, kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều". Lý do này cũng là ở sức mạnh của nhân nghĩa, vì "yếu" chỉ là kém hơn sức mạnh quân sự, nhưng mạnh hơn bởi sự hợp lực đức nghĩa của "kẻ nhân giả". Còn "ít" chỉ là nhỏ hơn về số người, nhưng mạnh hơn cũng bởi sự hợp lực sức mạnh lòng nhân của "kẻ nghĩa giả". Quả đúng là đức nhân và việc nghĩa là một sức mạnh: (cường nhi nghĩa); (đồng lực, độ đức; đồng đức, độ nghĩa); và (nhị nhân đồng tâm kỳ lợi đoạn kim). Nhưng tư tưởng nhân nghĩa truyền thống Việt Nam, còn là việc dùng sức mạnh nhân nghĩa để chống bạo tàn: "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân làm biến đổi cường bạo" (Bình Ngô đại cáo). Sức mạnh nhân nghĩa được thực hiện bằn thu phục nhân tâm của kẻ xâm lược: "công tâm". Mặc dù đây là tư tưởng trước đó đã được nói đến ở thời Tam Quốc (tâm vi thượng, công thành vi hạ; tâm chiến vi thượng, binh chiến vi hạ). Nhưng tư tưởng "công tâm" mà Nguyễn Trãi nhấn mạnh đã được nâng thành tư tưởng có tầm chiến lược và được sử dụng như một nghệ thuật. Việc vận dụng quan điểm nhân nghĩa như một nghệ thuật trong tư tưởng của Nguyễn Trãi thể hiện ở chỗ nhân nghĩa vừa là phương tiện vừa là mục tiêu. Nhưng cũng chính vì là nghệ thuật dùng nhân nghĩa trong điều kiện thực tiễn lịch sử phải là sức mạnh được tập trung vào công cuộc giải phóng dân tộc, đó là: "dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội". Đặc biệt, trong hoàn cảnh đó phải thực hiện cả "quyền mưu làm gốc để trừ kẻ gian tà"; và "nhân nghĩa làm gốc để giữ vững bờ cõi" (Quyền mưu bản thị dụng trừ gian; nhân nghĩa duy trì quốc thế an). Cũng chính vì nhân nghĩa để thắng hung tàn, mà quyền mưu thì dùng trừ gian, do đó "quyền mưu" chính là nhân nghĩa trong thời kỳ chống xâm lược. Tư tưởng nhân nghĩa thể hiện theo tinh thần trên còn bao hàm cả sự khoan dung. Khi Nguyễn Trãi soạn Chiếu thư cho vua Thái tổ đã giải quyết tốt tình huống bang giao với phương Bắc ngay sau khi nước nhà giành độc lập: Lúc ấy, các Tướng sĩ và nhân dân ta, đều thâm thù sự tàn bạo của người Minh, nên đều mật khuyên Hoàng đế nhân dịp giết chết cả đi. nhưng ngài dụ rằng: "Việc phục thù trả oán, là tình thường của mọi người, nhưng không ưa giết người, là bản tâm của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới đời sau, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người, để dứt mối chiến tranh tới muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền tới ngàn thu, há chẳng đẹp lắm ư?". Các bầy tôi đều bái phục độ lượng khoan hồng của Hoàng đế." Lấy việc thực hiện tinh thần nhân nghĩa thời kỳ này so với thời trước đó vào thời Trần thì tinh thần nhân nghĩa trên đây trong tư tưởng Nguyễn Trãi là đỉnh cao phát triển tư tưởng nghĩa. "Trong lịch sử đời Trần có vụ sau khi nhà Nguyên thất trận hai lần nên phải chịu hòa hiếu bang giao với nước ta. Vua Nhân Tôn liền sai quan đưa bọn tướng tá tù binh Mông Cổ về Tàu như Tích Lệ, Cơ Ngọc, Phàn Tiếp. Riêng tướng Mã Nhi là tên đã giết hại nhiều người Việt, để rửa hận cho nhân dân Việt nên vua mới dùng mưu của Trần Hưng Đạo đem ra giữa bể rồi sai người đánh đắm thuyền cho chết đuối. Về sau vua Dực Tôn (1829–1883) xem hồ sơ vụ này có phê bốn chữ "Bất nhân phi nghĩa". Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất của việc thực hiện nhân nghĩa chính là để "an dân". Nhưng chưa hết, thực hiện phương tiện nhân nghĩa để thực hiện mục tiêu an dân đã tạo một nấc thang mới trong sự phát triển tư tưởng nhân nghĩa thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, khi mà việc nhân nghĩa không phải chỉ tuyệt đối hoá ở mệnh trời, được thể thông qua người quân tử như trong tư tưởng truyền thống, mà ở Nguyễn Trãi thì: "việc nhân nghĩa cốt ở an dân", cần được hiểu rằng: cốt ở yên dân (yếu tại an dân) là nhân nghĩa xuất phát từ chính việc người thay cho mệnh trời, mà ở đây chính là dân lành? Xuất phát từ quan điểm đó là tư tưởng thể hiện lòng biết ơn dân: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày". Tất nhiên, lòng biết đã có trong tư tưởng Nho giáo: "Bách tính không đủ ăn thì vua đủ ăn sao được" (bá tính bất túc quân thục dữ túc, Luận Ngữ, Nhan Uyên), nhưng lòng biết ơn dân cũng là mục đích an dân, vì dân, lo cho dân, để rồi: "nơi thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu". Ngay trong thời đại của mình vào thế kỷ XV, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã được thực tiễn trả lời những giá trị của nó, không dừng lại ở đó, cho đến nay những tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị.
Bình luận (0)
phuc khang
23 tháng 5 2019 lúc 20:40

Soạn văn lớp 8

Bình luận (0)
Ngố ngây ngô
9 tháng 5 2019 lúc 9:52

Trước chiến tranh họ là những tên An nam mit bẩn thỉu, bị khinh thường và bóc lột. Nhưng khi chiến tranh xảy ra họ lại trở thành những chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do, trở thành những đứa con yêu, bạn hiền của quan phụ mẫu. Và đến cuối cùng khi chiến tranh kết thúc, họ chẳng nhận được gì cả, hơn nữa còn bị bóc lột hết tài sản còn sót lại.

Bình luận (0)
Minh Nguyệt
7 tháng 4 2019 lúc 14:47

Tham khảo:

Mở bài Phân tích nghệ thuật châm biếm đả kích trong Bản án chế độ thực dân Pháp

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một tác giả văn học lớn của dân tộc. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Người đã bộc lộ rõ tài năng bậc thầy của một cây bút chính luận với nghệ thuật châm biếm đả kích sắc sảo, tài tình nhưng cũng rất giàu yếu tố biểu cảm.

Trong buổi đầu khởi nghiệp văn chương, Nguyễn Ái Quốc đã cho ra đời một loạt tác phẩm nổi tiếng như: Những trò lô hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Con rồng tre, Bản án chế độ thực dân Pháp…

Bản án chế độ thực dân Pháp là một áng văn chính luận xuất sắc của văn học Việt Nam nhằm tô cáo tội ác tàn bạo của bọn thực dân Pháp ở các thuộc địa. Để tác phẩm của mình trở thành một thứ vũ khí sắc bén chống chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng hết mọi năng lực của mình dồn vào ngòi bút châm biếm, đả kích.

Thân bài Phân tích nghệ thuật châm biếm đả kích trong Bản án chế độ thực dân Pháp

Ngay ở chương đầu tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ rõ sự sắc sảo trong bút lực của mình.

Trước hết chúng ta chú ý đến cách đặt tên chương và trình tự bố cục các phần trong chương.

Thuế máu là cách gọi của Nguyễn Ái Quốc. Tên chương vừa gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa, vừa bao hàm được lòng căm phẫn và thái độ mỉa mai đối với những tội ác ghê tởm của bọn thực dân.

Các phần trong chương được bố cục theo một trình tự thời gian: Trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Với cách bố cục này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa trơ trẽn, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp xung quanh việc bóc lột thuế máu được phơi bày toàn diện, triệt để. Mặt khác, thân phận thảm thương của người dân ở các xứ thuộc địa cũng được miêu tả một cách cụ thể, sinh động.

Đi sâu vào nội dung của từng phần, ngòi bút châm biếm đả kích của Nguyễn Ái Quốc càng sắc sảo, tài tình.

Biểu hiện thứ nhất của nghệ thuật này là việc xây dựng, hình ảnh. Nguyễn ái Quốc đã chú ý xây dựng một hệ thống hình ảnh có giá trị nghệ thuật đặc biệt, vừa sinh động, vừa giàu tính biểu cảm và sức mạnh tố cáo.

Các hình ảnh Nguyễn Ái Quốc đưa ra đều hết sức chân thực. Từ hình ảnh những người da đen bẩn thỉu, những người An-nam-mít bẩn thỉu chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn cửa những quan cai trị, đến những hình ảnh về cái chết thảm thương của những người lính thuộc địa trên các bãi chiến trường châu Âu xa xôi. Từ hình ảnh những người bị bắt lính, bị trói, bị xích, bị nhốt như nhốt súc vật đến hình ảnh những người lính sống sót sau chiến tranh trở về bị lột hết của cải, bị ngược đãi và xua đuổi… Tất cả đều là những thực tế đau thương đầy máu và nước mắt của người dân thuộc địa khốn khổ! Vì thế mà hình ảnh Nguyễn ái Quốc đưa ra không chỉ là những chứng cứ hùng hồn về tội ác của bọn thực dân mà còn là những lí lẽ không thể chối cãi. Sức mạnh của nghệ thuật chính luận Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ đó.

Không chỉ có tính xác thực cao, các hình ảnh trong tác phẩm còn đậm chất châm biếm trào phúng và thấm đẫm tình cảm xót xa của nhà văn. Nhiều hình ảnh ở chương Thuế máu, nhất là ở phần Chiến tranh và người bản xứ mang đậm cảm hứng mỉa mai, chua xót, cay đắng cho số phận thảm thương của người lính thuộc địa như: Trong lúc vượt biển, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái hoặc: Một số khác đã bỏ xác tại các miền hoang vu thơ mộng Ban-căng… Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát…

Gắn liền với các hình ảnh là ngôn từ của tác phẩm. Nguyễn Ái Quốc đã rất chú ý sử dụng những ngôn từ mang đầy sắc thái trào phúng, châm biếm.

Ta hãy đọc kĩ lại: Ấy thế mà khi cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của những quan cai trị phụ mẫu nhân hậu… Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho các danh hiệu tối cao là chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do. Những từ con yếu, bạn hiền, quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do nghe sao mà mỉa mai! Rồi những từ “lấy máu mình tưới vòng nguyệt quế, lấy xương mà chạm nên những chiếc gậy nghe sao mà chua xót, đắng cay!

Cùng với hình ảnh, ngôn từ, là giọng điệu trào phúng. Giọng điệu trào phùng trong tác phẩm thật đặc sắc.

Giọng văn của tác phẩm khi thì giễu cợt mỉa mai: (ấy thế mà, đùng một cái), khi thì chua xốt, đắng cay chẳng phải người ta đã đưa họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao?… Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc sử dụng rất thành công giọng điệu giễu nhại: Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ. Tác giả nhại lại lời của bọn thực dân nhằm mỉa mai, châm biếm cái gọi là Chế độ lính tình nguyện.

Kết hợp giọng giễu nhại là cách đưa ra liên tiếp các câu hỏi tu từ ở cuối phần II dã có tác dụng phản bác mạnh mẽ. Lời văn Nguyễn Ái Quốc đập thẳng vào bộ mặt bịp bợm của bọn thực dân.

Kết luận Phân tích nghệ thuật châm biếm đả kích trong Bản án chế độ thực dân Pháp

Có thể nói, sức mạnh của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp nằm ở nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo, tài tình nhưng rất giàu sắc thái biểu cảm. Nghệ thuật ấy kết hợp với nội dung nhân đạo cao cả đã đưa Bản ản ché độ thực dân Pháp trở thành một bản cáo trạng đanh thép tội ác của bọn thực dân và tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm.

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN