Hướng dẫn soạn bài Chí khí anh hùng - trích

Chi Nguyễn Khánh
3 tháng 8 2020 lúc 16:35

Phân tích (cảm nhận) vẻ đẹp hình tượng nhân vật Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng.

Mở bài: Giới thiệu nhân vật Từ Hải

Thân bài:

- Từ Hải đã cứu vớt đời Thúy Kiều khỏi lầu xanh của Bạc Hạnh Bạc Bà

- "Nửa năm hương lửa đương nồng/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương": Không cam chịu cuộc sống ấm êm, giản dị mà quyết tâm để lại sau lưng tình riêng ra đi làm nghiệp lớn.

- Hành động ra đi mạnh mẽ, quyết liệt của Từ Hải lại được thể hiện rất rõ ở những câu thơ "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong" và "Quyết lời dứt áo ra đi". Tác giả lựa chọn sử dụng một loạt những từ ngữ "thẳng rong" tức là đi liền một mạch, "quyết lời", "dứt áo" thể hiện hành động nhanh chóng, mạnh mẽ, dứt khoát, không chút lưu luyến, bịn rịn. Từ đó thấy được khí phách mạnh mẽ của bậc đại trượng phu.

- "Từ rằng: Tâm phúc tương tri/Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình": Lời trách, nhưng đồng thời cũng là lời động viên Thúy Kiều rằng hãy cố gắng vượt ra khỏi cái suy nghĩ của bậc nữ nhi thường tình để trở thành phu nhân của một bậc anh hùng cái thế, có công danh sự nghiệp hiển hách, thể hiện ý thức của Từ Hải về sự hơn đời, hơn người của bản thân mình.

- "Bao giờ... nghi gia": Lời động viên ngầm của Từ Hải là lời ước hẹn của Từ Hải với Thúy Kiều.

- "Bằng nay bốn bể không nhà/Theo càng thêm bận biết là đi đâu": An ủi, lo lắng, giải thích cho Thúy Kiều để nàng an lòng ở lại. Đồng thời ở hai câu thơ này ta còn lờ mờ nhận ra đằng sau nó là sự cô đơn, lạc lõng của Từ Hải trong giây phút bắt đầu gây dựng công danh sự nghiệp.

- Các hình ảnh "bốn phương", "trời bể mênh mang", "bốn bể", "gió mây", "dặm khơi", hình ảnh cánh chim "bằng". Đây đều là những hình ảnh gợi ra bối cảnh không gian khoáng đạt rộng lớn, góp phần nâng tầm vóc của người anh hùng mang hùng tâm tráng chí Từ Hải lên sánh ngang với tầm vóc của vũ trụ. Bên cạnh đó còn thể hiện chí lớn của người anh hùng khao khát được vẫy vùng, tùng hoành trong bốn bể.

Kết bài: Tổng kết phần nội dung và nghệ thuật

Chúc bạn học tốtyeu

Bình luận (0)
Thảo Phương
24 tháng 4 2020 lúc 19:59

Từ Hải - người anh hùng với ý chí , khát vọng vùng vẫy giữa đất trời.Chỉ cần nghĩ đến những khát khao, hoài bão lớn của đời người là chàng đã muốn lên đường ngay lập tức. Tư thế lên đường “trông vời” đó là cái nhìn thẳng về phía trước, thể hiện một thái độ tự tin, mạnh mẽ của con người có bản lĩnh kiên định, vững vàng. Các từ ngữ Nguyễn Du miêu tả quyết tâm của Từ Hải hết sức đắt giá: “trượng phu”, “động lòng bốn phương”, “trời bể mênh mông” cho thấy một không gian hoạt động rộng lớn, đó là không gian thiên nhiên, vũ trụ để Từ Hải thỏa sức vẫy vùng, thể hiện hùng tâm, tráng trí của mình.

Bình luận (0)
Thảo Phương
19 tháng 4 2020 lúc 18:39

Giới thiệu khái quát :

Chí khí anh hùng được trích từ phần thứ hai Gia biến và lưu lạc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là phần do Nguyễn Du sáng tạo ra không có trong nguyên tác chữ Hán. Đoạn trích đã vẽ lên chân dung người anh hùng Từ Hải vô cùng đẹp đẽ, đồng thời gửi gắm những thông điệp ý nghĩa qua nhân vật này.

Mở bài:

Từ Hải là một giấc mơ của Nguyễn Du, giấc mơ anh hùng, giấc mơ tự do và công lý. Cho nên Từ Hải là một người chí khí, một người siêu phàm. Con người ấy đến từ một giấc mơ và ở lại như một huyền thoại. Hiện diện trong “Truyện Kiều” như một nhân cách sử thi, Từ Hải đã làm nên những trang sôi động nhất, hào sảng nhất trong cái thế giới buồn đau dằng dặc của “Đoạn Trường Tân Thanh”. Đoạn trích “Chí Khí Anh Hùng” là một đoạn trích tiêu biểu khắc họa rõ nét chí khí anh hùng của Từ Hải.

Kết bài

Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã ba lần khắc họa những cuộc chia biệt. Đó là Kiều tiễn Kim Trọng về quê hộ tang chú, ở đó có sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm. Đó là cuộc chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẻ, hi vọng gặp lại mong manh. Cuộc chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thỏa chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy tính chất ba cuộc chia biệt là hoàn toàn khác hẳn nhau. Vậy nhưng, bằng tài hoa của một người nghệ sĩ bậc thầy, Nguyễn Du đã khắc họa thành công chân dung nhân vật Từ Hải với những dấu ấn riêng biệt.

Dưới hình thức một cuộc chia li, đoạn trích “Chí khí anh hùng” mang chở khát vọng tự do, công lí của Nguyễn Du. Từ Hải như một con đại bàng vỗ cánh làm xáo động cả đất trời. Chỉ có đôi cánh ấy mới che chở được những nạn nhân sống dưới gần trời tăm tối của thế giới “Truyện Kiều”.

Bình luận (0)
Cao Thị Tú

Câu 1: Đoạn trích “Chí khí anh hùng” của Nguyễn Du được trích từ tác phẩm
nào?
A. Chinh phụ ngâm.
B. Quốc Âm thi tập.
C. Thanh Hiên thi tập.
D. Truyện Kiều.
Câu 2: Đoạn trích “Chí khí anh hùng” nằm ở vị trí nào trong tác phẩm?
A. Từ câu 1299 đến câu 1248.
B. Từ câu 2213 đến câu 2230.
C. Từ câu 723 đến 756.
D. Từ câu 431 đến 452.
Câu 3: Đoạn trích “Chí khí anh hùng” được viết theo thể thơ nào?
A. Tự do.
B. Song thất lục bát.
C. Lục bát.
D. Thất ngôn.
Câu 4: Đọc hai câu thơ trong “Chí khí anh hùng”: “Nửa năm hương lửa đương
nồng,/ Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.”. Hai câu thơ trên cho thấy
Từ Hải là người như thế nào?
A. Từ Hải đặt chuyện chí làm trai lớn hơn hạnh phúc.

B. Dù vui duyên mới, Từ Hải vẫn không quên chí làm trai của một đấng anh hào.
C. Từ là một con người luôn say mê hoạt động, ham thích thú ngao du.
D. Từ Hải đã đặt nghĩa nước lên trên tình nhà, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá
nhân để hoàn thành nghĩa vụ với đất nước.
Câu 5: Từ “trượng phu” trong câu “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn
phương” trong đoạn trích “Chí khí anh hùng” có nghĩa là:
A. Người đàn ông có khí phách.
B. Người đàn ông có tài năng xuất chúng.
C. Người đàn ông nghĩa hiệp.
D. Người đàn ông tài cao học rộng.
Câu 6: Cụm từ “thẳng rong” hiểu theo nghĩa văn cảnh có nghĩa là:
A. Đi mau.
B. Đi vội.
C. Đi thẳng.
D. Đi liền một mạch.
Câu 7: Nhận xét nào không đúng với ý nghĩa biểu hiện của không gian trong hai
câu thơ: “Trông vời trời bể mênh mang,/ Thanh gươm yên ngựa trên đường
thẳng rong”?
A. Không gian rất tương xứng với chí tung hoành của Từ Hải.
B. Không gian xa xăm, mù mịt, đối lập với chí khí hiên ngang của Từ Hải.
C. Không gian xa rộng, như bị che lấp bởi một người với một ngựa, một gươm.
D. Không gian rộng mở, tôn nổi vóc dáng “trượng phu” của Từ Hải.
Câu 8: Kiều nói khi muốn xin đi theo Từ Hải: “Nàng rằng phận gái chữ tòng,/
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi” là theo quan niệm của Nho giáo (Tam
tòng), nhưng cũng gửi vào đó quan niệm, tình cảm riêng của nàng. “Phận gái
chữ tòng” theo đó có nghĩa là:
A. Đã là vợ sẽ đi theo chồng vô điều kiện.
B. Đã là vợ phải phục tùng chồng.

C. Đã là vợ phải theo chồng để chia sẻ, tiếp sức cho chồng.
D. Đã là vợ phải dựa dẫm, lệ thuộc vào chồng.
Câu 9: Trong đoạn trích “Chí khí anh hùng”, Thúy Kiều đã nói với Từ Hải lúc
hai người chia tay: “Nàng rằng: ‘Phận gái chữ tòng/ Chàng đi thiếp cũng một
lòng xin đi’”. Câu nói trên cho thấy Thúy Kiều là người như thế nào?
A. Là một người vợ tuân thủ mẫu mực nề nếp phong kiến, luôn giữ tam tòng tứ
đức.
B. Là một người vợ giàu yêu thương.
C. Là người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hy sinh khi sẵn sàng từ bỏ cuộc sống yên
ổn để theo giúp chồng thực hiện chí lớn.
D. Là một người vợ thủy chung, vẹn đạo phu thê và muốn được chia sẻ khó
khăn với chồng.
Câu 10: Cách hiểu nào chính xác nhất về từ “mặt phi thường” trong câu thơ
“Làm cho rõ mặt phi thường”?
A. Một con người xuất chúng, hơn người.
B. Diện mạo hơn người, làm được những việc trọng đại.
C. Có ý chí làm được những việc gian khó.
D. Cá tính mạnh mẽ, tinh thông võ nghệ.
Câu 11: Lời Từ Hải nhắc Kiều: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?/ Bằng
nay bốn bể không nhà,/ Theo càng thêm bận biết là đi đâu?” đặt trong toàn bộ
lời nói Từ Hải, thực chất cũng là một lời khuyên. Ẩn ý của lời khuyên ấy là gì?
A. Hãy vượt lên tình cảm thông thường để làm vợ một người anh hùng.
B. Hãy thoát khỏi cái tình thông thường của đàn bà con gái.
C. Hãy thoát khỏi tình cảm yếu đuối để sống cho mạnh mẽ.
D. Hãy vượt lên khó khăn, xa cách tạm thời để nghĩ đến tương lai.
Câu 12: Từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích “Chí khí anh hùng” được
Nguyễn Du dùng để miêu tả sự tỉnh thức mau lẹ của khát vọng, chí khí anh hùng
của Từ Hải?

A. Thoắt.
B. Trời bể mênh mang.
C. Thanh gươm yên ngựa.
D. Trượng phu.
Câu 13: Qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”, Từ Hải hiện lên như thế nào?
A. Là con người của sự nghiệp phi thường.
B. Là con người có chí khí, có sự thống nhất giữa khát vọng phi thường và tình
cảm sâu nặng với người tri kỉ.
C. Là người rất tự tin vào tài năng của bản thân.
D. Tất cả đều đúng.
Câu 14: Hành động nào của Từ Hải bộc lộ rõ nhất lí tưởng anh hùng?
A. “Nửa năm hương lửa đương nồng,/ Trượng phu thoắt đã, động lòng bốn
phương”.
B. “Quyết lời dứt áo ra đi,/ Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”.
C. “Trông vời trời bể mênh mang,/ Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng
rong”.
D. Tất cả đều đúng.
Câu 15: Nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du
là:
A. Hoàn toàn sáng tạo, không dựa theo bất kì khuôn mẫu nào.
B. Giữ lại những nét tính cách của Từ Hải trong “Kim Vân Kiều truyện”.
C. Miêu tả theo bút pháp lí tưởng hoá, dùng những hình ảnh ước lệ.
D. Miêu tả theo bút pháp hiện thực, cá tính được thể hiện đậm nét.

Câu 16: Xét về mặt nghệ thuật, đoạn trích “Chí khí anh hùng” thành công nhất
ở phương diện nào?
A. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên rộng lớn, khoáng đạt mang tầm vóc vũ trụ.
B. Nghệ thuật miêu tả nhân vật theo hướng lí tưởng hóa.

C. Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc và sống động.
D. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
Câu 17: Trong văn học trung đại Việt Nam, câu thơ nào không viết về đề tài chí
làm trai và hoài bão, khát vọng của đấng nam nhi?
A. “Công danh nam tử còn vương nợ,/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.
B. “Chí làm trai nam bắc đông tây,/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.
C. “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,/ Người khôn người đến chốn lao xao”.
D. “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,/ Nợ tang bồng vay trả trả vay”.
Câu 18: Đoạn trích “Chí khí anh hùng” chỉ gồm mười tám câu thơ, trong đó,
Nguyễn Du đã dành mười câu để “trích dẫn” lời của nhân vật Từ Hải. Điều đó
thể hiện dụng ý nghệ thuật gì của tác giả?
A. Tác giả muốn thể hiện với Từ Hải, sự nghiệp, hoài bão lí tưởng mới là mục
đích lớn nhất của chàng chứ không phải là hạnh phúc gia đình nhỏ bé.
B. Tác giả để phẩm chất, tính cách nhân vật bộc lộ tự nhiên, khách quan thông
qua lời nói của chính nhân vật.
C. Tác giả muốn thể hiện những tâm sự, những suy nghĩ còn ngổn ngang trong
lòng Từ trước lúc ra đi.
D. Phải dành một dung lượng lớn như vậy mới chuyển tải hết tầm vóc của tài
năng và hoài bão lớn lao của người anh hùng Từ Hải.
Câu 19: Hình thức ngôn ngữ nào không có trong đoạn trích “Chí khí anh
hùng”?
A. Ngôn ngữ nhân vật.
B. Ngôn ngữ tác giả.
C. Ngôn ngữ độc thoại.
D. Ngôn ngữ đối thoại.
Câu 20: Nhận xét nào sau đây đúng với đoạn trích “Chí khí anh hùng”?
A. Cách tả người anh hùng Từ Hải là cách tả phổ biến trong văn học trung đại.

B. Người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du và các
phương diện cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật miêu tả.
C. Cả A và B đều đúng.
D. Cả A và B đều sai.

Trần Hoàng Nghĩa
17 tháng 5 2018 lúc 20:56

Nguyễn Du là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, được mệnh danh là đại thi hào, trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Du đã để lại nhiều tác phẩm hay và có giá trị, nổi bật nhất có thể kể đến đó chính là đại kiệt tác Truyện Kiều. Đoạn trích Chí khí anh hùng là một trong những đoạn trích khá tiêu biểu, Nguyễn Du đã miêu tả chân dung cũng như khát vọng làm nên sự nghiệp lớn của người anh hùng Từ Hải.

Trong đoạn trích Chí khí anh hùng, tác giả Nguyễn Du đã tập trung miêu tả và làm nổi bật lên vẻ đẹp ý chí và phẩm chất của Từ Hải. So với nhân vật Từ Hải trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện thì nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du hoàn toàn khác, đó không phải một tên tướng cướp như nguyên mẫu mà là một người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất có bản lĩnh và ý chí phi thường. Cảm hứng ca ngợi cùng bút pháp ước lệ tượng trưng khiến cho nhân vật Từ Hải hiện lên lớn lao, kì vĩ, mang đầy đủ phẩm chất của người những người anh hùng xưa.

Khi Thúy Kiều đang tuyệt vọng, chìm đắm trong cuộc sống đau khổ, ê chề nơi lầu xanh thì Từ Hải đã xuất hiện và cứu nàng ra khỏi chốn tửu sắc đầy thị phi ấy. Nhờ có Từ Hải mà Thúy Kiều được báo ân báo oán, được hưởng hạnh phúc vợ chồng như những người phụ nữ bình thường khác. Tuy cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng vẫn không thể che khuất được khát vọng lập thân to lớn của Từ Hải. Vì vậy mà dù không đành lòng nhưng Từ Hải vẫn phải để Thúy Kiều ở lại còn bản thân mình thì ra đi thực hiện hoài bão:

“Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”

Thúy Kiều và Từ Hải đã có nửa năm bên nhau, cuộc sống êm ấm, hạnh phúc nhưng với hoài bão lớn của người anh hùng, Từ Hải đã “động lòng bốn phương”. Cách sử dụng từ ngữ đầy tính ước lệ đã làm nổi bật lên khát vọng lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Dù yêu thương, trân trọng tình yêu với Thúy Kiều nhưng khát vọng anh hùng đã không cho phép Từ Hải lùi bước, tương lai, sự nghiệp phía trước “mênh mang” chưa xác định nhưng với bản lĩnh kiên cường, khát vọng lớn lao ấy hình ảnh ra đi của Từ Hải đẹp đẽ như những bậc trượng phu xưa.

Đối với Thúy Kiều mà nói, Từ Hải không chỉ là người chồng mà nàng thương yêu, trân trọng mà đó còn là người mà nàng mang ơn, chính Từ Hải đã cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Trước quyết định ra đi của Từ Hải, nàng biết không thể ngăn cản nhưng cũng không đành lòng để chàng ra đi đơn độc, Thúy Kiều đã bày tỏ mong muốn được đi theo để chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chàng:

“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”

Thúy Kiều đề cao quan niệm “xuất giá tòng phu” của đạo đức Nho giáo xưa, nàng muốn được đi theo để tiện bề chăm sóc cũng như giúp đỡ cho Từ Hải. Trước yêu cầu đầy chân thành của Thúy Kiều, Từ Hải đã rất cảm động nhưng cuối cùng chàng không đồng ý vì sợ Thúy Kiều thân con gái đi theo sẽ phải chịu khổ. Như để an ủi nàng, Từ Hải đã hứa hẹn bao giờ lập lên sự nghiệp lớn sẽ rước nàng “nghi gia”:

“Từ rằng: Tâm phúc tương tri

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”

Theo Từ Hải, Thúy Kiều chưa thoát khói thói nữ nhi thường tình đồng thời đó cũng là lời động viên để nàng không phải lo lắng khi mình lên đường thực hiện nghiệp lớn. Là một người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất, Từ Hải quyết tâm ra đi gây dựng nghiệp lớn để có thể nắm trong tay “mười vạn tinh binh”. Và khi sự nghiệp đã thành, chàng sẽ trở về để đón Kiều nghi gia trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”.

Qua những lời đối thoại của Từ Hải với Thúy Kiều trước lúc ra đi đã thể hiện được chí khí lớn lao của người anh hùng mang trong mình khát vọng lớn. Tuy nói Thúy Kiều đi theo sẽ thêm vướng bận nhưng thật ra nguyên nhân chính Từ Hải không muốn Thúy Kiều đi theo là vì không muốn nàng phải chịu khổ, sợ nàng không thể thích ứng được với cuộc sống bốn bể là nhà:

“Bằng ngay bốn bể không nhà

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu”

Để Thúy Kiều có thể yên tâm hơn, Từ Hải đã khẳng định thời gian mà mình ra đi là một năm, Từ Hải đã động viên Thúy Kiều về một tương lai chiến thắng, chàng sẽ trở về trong sự hiển hách, vinh quang:

“Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy chăng là một năm sau vội gì.”

Cuộc chia tay giữa Từ Hải cũng thật khác lạ, đó không phải là những lời tâm tình nỉ non mà lại là những lời hứa hẹn về một tương lai tất thắng, qua đó ta có thể thấy được những phẩm chất trượng phu trong con người của Từ Hải, đó là con người dùng hành động để thể hiện tình cảm với người mình yêu.

Đoạn trích “Chí khí anh hùng” đã xây dựng thành công hình tượng người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất Từ Hải, đó không chỉ là một con người giàu tình cảm mà còn là một người anh hùng có khát vọng lớn cùng ý chí, quyết tâm đầy mạnh mẽ, quyết liệt.

Bình luận (2)
Ngô Thị Thu Trang
18 tháng 5 2018 lúc 15:12

Đoạn trích Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nói về Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường.

Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều luôn sống trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng:

Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Thế rồi Từ Hải đột nhiên xuất hiện. Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm, tri kỉ. Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh, Từ Hải đã tinh tường nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều và với con mắt tinh đời, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan cho mình. Nàng khiêm nhường bày tỏ:

Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

Hai người, một là gái giang hồ, một đang làm "giặc", đều thuộc hạng người bị xã hội phong kiến khinh rẻ nhất, đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một mối tình tri kỉ. Từ Hải đánh giá Kiều rất cao, còn Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng. Nhưng tình yêu không thể giữ chân Từ Hải được lâu. Đã đến lúc Từ Hải ra đi để tiếp tục tạo lập sự nghiệp. Đoạn trích này cho thấy một Từ Hải đầy chí khí anh hùng, mà cũng đượm chút cô đơn, trống trải giữa đời.

Trước sau đối với Từ Hải, Nguyễn Du vẫn dành cho chàng thái độ trân trọng và kính phục, ở chàng, nhất cử nhất động đều thể hiện rõ chí khí, cốt cách anh hùng. Trên con đường tạo dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là phút chốc nghỉ ngơi. Cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc hơn bao giờ hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã lại động lòng bốn phương, dứt khoát lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở:

Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Từ Hải được tác giả miêu tả là con người đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng tới, khí là nghị lực để đạt tới mục đích, ở con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng như đã trở thành một khát vọng bản năng tự nhiên, không có gì có thể kiềm chế nổi.

Trước lúc gặp gỡ và kết duyên với Thúy Kiều, Từ Hải đã là một anh hùng hảo hán: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, đã từng: Nghênh ngang một cõi biên thùy. Cái chí nguyện lập nên công danh, sự nghiệp ở chàng là rất lớn. Vì thế không có gì cản được bước chân chàng.

Dù Nguyễn Du không nói cụ thể là Từ Hải ra đi làm gì nhưng nếu theo dõi mạch truyện và những câu chàng giải thích để Thúy Kiều an lòng thì người đọc sẽ hiểu cả một sự nghiệp vinh quang đang chờ chàng ở phía trước. Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng. Đang sống trong cảnh nồng nàn hương lửa. Từ chợt động lòng bốn phương, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức một mình với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong. Chữ trượng phu trong Truyện Kiểu chỉ xuất hiện một lần dành riêng đã nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy Nguyễn Du đã dùng từ trượng phu với nghĩa Từ Hải là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ thoắt thể hiện quyết định nhanh chóng, dứt khoát của chàng. Bốn chữ động lòng bốn phương nói lên được cái ý Từ Hải "không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương". (Hoài Thanh).

Động lòng bốn phương là thấy trong lòng náo nức cái chí tung hoành khắp bốn phương trời. Con người phi thường như chàng chẳng thể giam hãm mình trong một không gian chật hẹp. Chàng nghĩ rất nhanh, quyết định lại càng nhanh. Một thanh gươm, một con tuấn mã, chàng hối hả lên đường. Ấy là bởi khát vọng tự do luôn sôi sục trong huyết quản của người anh hùng. Hoài Thanh bình luận: Qua câu thơ, hình ảnh của con người "thanh gươm yên ngựa" tưởng như che đầy cả trời đất".

Trong cảnh tiễn biệt, tác giả tả hình ảnh Từ Hải: thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong trước rồi mới để cho Từ Hải và Kiều nói những lời tiễn biệt. Có người cho rằng nếu như vậy thì Thúy Kiều còn nói sao được nữa? Có lẽ tác giả muốn dựng cảnh tiễn biệt này khác hẳn cảnh tiễn biệt giữa Thúy Kiều - Kim Trọng, Thúy Kiều - Thúc Sinh. Từ Hải đã ở tư thế sẵn sàng lên đường. Chàng ngồi trên yên ngựa mà nói những lời tiễn biệt với Thúy Kiều. Sự thật có phải vậy không? Không chắc, nhưng cần phải miêu tả như thế mới biểu hiện được sự quyết đoán và cốt cách phi thường của Từ Hải.

Thúy Kiều biết rõ Từ Hải ra đi sẽ lâm vào tình cảnh bốn bể không nhà, nhưng vẫn khẩn thiết xin được cùng đi, nàng rằng: Phận gái chữ tòng, chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. Ngắn gọn thế thôi, nhưng quyết tâm thì rất cao. Chữ tòng ở đây không chỉ có nghĩa như trong sách vở thánh hiền của đạo Nho: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu..., mà còn ngụ ý tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ, muốn cùng được gánh vác với chồng.

Bình luận (1)
Anh Triêt
23 tháng 5 2017 lúc 15:14

Cách tả người anh hùng của Nguyễn Du có hai đặc điểm cần phải lưu ý, đó là hình tượng nhân vật vừa có tính ước lệ vừa mang tầm vóc của con người vũ trụ. Kiểu mẫu người anh hùng vốn đã là nhân vật truyền thống của văn học trung đại. Nó có một khuôn mẫu riêng đã được các nhà văn tổng kết trong quá trình sáng tạo. Theo những khuôn mẫu miêu tả này thì hai phương diện ước lệ và cảm hứng vũ trụ vốn gắn bó chặt chẽ với nhau khi các nhà văn chấp bút thể hiện hình ảnh những nhân vật anh hùng. Ở nhân vật Từ Hải cũng vậy. Các cụm từ như "lòng bốn phương" vốn đã mang nội hàm diễn tả lí tưởng con người vũ trụ. Hoặc cụm từ "trông vời trời bể mênh mang" vừa có tính ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc phi phàm của Từ Hải. Cũng như thế, có thể phân tích các hình tượng khác như: bốn bể, chim bằng, gió mây.

Vẫn theo cách thể hiện này thì người anh hùng còn có một nét đặc trưng nữa là suy nghĩ và hành động ngắn gọn, dứt khoát. Họ chủ yếu được quan sát và miêu tả nhiều hơn ở khía cạnh lí trí, phần tình cảm có vẻ giản đơn và ít nhiều nhòa nhạt hơn.

Bình luận (0)

Khoá học trên Online Math (olm.vn)

Loading...

Khoá học trên Online Math (olm.vn)