Đề bài :Thuyết minh về bánh chưng ngày Tết

Đặng thu hương
Đặng thu hương 11 tháng 12 2020 lúc 18:50

Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. Bánh có thể được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch (ngày giổ tổ Vua Hùng). Cùng với bánh chưng, bánh giầy có thể tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Nó có màu trắng, hình tròn, được coi là đặc trưng cho bầu trời trong tín ngưỡng của người Việt. Tuy nhiên, Trần Quốc Vượng nói rằng bánh chưng và bánh giầy tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam.[1] Các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, như H'Mong, Dao, Mường cũng có bánh dày; tuy rằng họ không gói bánh chưng. Thay cho bánh chưng, họ gói bánh ú hay bánh tét, loại bánh hình tròn dài, mà theo giải thích của Trần Quốc Vượng là phù hợp với quan niệm tín ngưỡng phồn thực. Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. Bánh có thể được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch (ngày giổ tổ Vua Hùng). Cùng với bánh chưng, bánh giầy có thể tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Nó có màu trắng, hình tròn, được coi là đặc trưng cho bầu trời trong tín ngưỡng của người Việt. Tuy nhiên, Trần Quốc Vượng nói rằng bánh chưng và bánh giầy tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam.[1] Các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, như H'Mong, Dao, Mường cũng có bánh dày; tuy rằng họ không gói bánh chưng. Thay cho bánh chưng, họ gói bánh ú hay bánh tét, loại bánh hình tròn dài, mà theo giải thích của Trần Quốc Vượng là phù hợp với quan niệm tín ngưỡng phồn thực. Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. Bánh có thể được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch (ngày giổ tổ Vua Hùng). Cùng với bánh chưng, bánh giầy có thể tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa. Nó có màu trắng, hình tròn, được coi là đặc trưng cho bầu trời trong tín ngưỡng của người Việt. Tuy nhiên, Trần Quốc Vượng nói rằng bánh chưng và bánh giầy tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam.[1] Các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, như H'Mong, Dao, Mường cũng có bánh dày; tuy rằng họ không gói bánh chưng. Thay cho bánh chưng, họ gói bánh ú hay bánh tét, loại bánh hình tròn dài, mà theo giải thích của Trần Quốc Vượng là phù hợp với quan niệm tín ngưỡng phồn thực.

Bình luận (0)
Joey Ben
Joey Ben
Joey Ben 25 tháng 4 2020 lúc 12:35

giúp

mik với mn

Bình luận (0)
✟şóı™βạ☪❖
✟şóı™βạ☪❖ 10 tháng 4 2020 lúc 19:26

Đề xuất bảo vệ danh lam thắng cảnh - Cảm nghĩ danh làm thắng cảnh bên dưới nhé.

- Tuyên truyền giá trị về danh lam và di tích lịch sử về việc bảo tồn và gìn giữ di tích với người dân địa phương và khách du lịch.

- Phát triển du lịch bền vừng, tạo điều kiện cho nhân dân xung quanh di tích tham gia vào việc bảo tồn, có thể có thu nhập từ việc kinh doanh bên vừng đó. Ví dụ cho con em họ hay bản thân họ vào bộ phận bảo tồn hoặc tạo điều kiện (Như tham gia vào hội biểu diễn, hướng dẫn khách..) hoặc họ có thể mở hoạt động kinh doanh thu hút khách...

- Đảm bảo cân đối việc khai thác du lịch với việc bảo tồn để phát triển bên vững.

-Là một học sinh, để bảo vệ, giữ gìn những di tích lịch sử, di sản văn hoá và danh lam thắng cảnh các em cần làm những việc sau:

+ Giữ gìn sạch sẽ các di sản văn hóa, địa phương.

+ Đi tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử, di sản văn hóa

+ Không vứt rác bừa bãi

+ Tố giác kẻ gian ăn cắp các cổ vật di vật

+ Tham gia các lễ hội truyền thống.

Bài tham khảo 1:

Núi Cấm từ ngày xa xưa đã được biết đến là ngọn núi linh thiêng, huyền bí nhất trong vùng Bảy núi. Về tên gọi cũng là một vấn đề luôn được du khách quan tâm, bởi nó còn có tên gọi chính thức bằng văn tự là Cấm Sơn. Dưới đây là mốt ố bài thuyết minh về Núi Cấm được tuyển chọn khá kĩ lưỡng, các bạn có thể đọc ngay tại đây nhé

Bài viết:

Núi Cấm hay còn gọi là Thiên Cấm Sơn, là ngọn núi cao và lớn nhất trong dãy thất sơn hùng vĩ thuộc địa phận tỉnh An Giang, nằm trong khu tam giác Tịnh Biên-Nhà Bàng-Tri Tôn. Núi Cấm có vị trí địa lý vô cùng đặc biệt, nằm cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 90km và cách thành phố Châu Đốc khoảng 37km. Đây còn là ngọn núi cao nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long, đỉnh Bồ Hong cũng là đỉnh núi cao nhất trong Thất Sơn với chu vi 28600m và độ cao 705m. Với độ cao này, từ trên Bồ Hong nhìn xuống là chùa Phật Lớn, núi Cấm mang trong mình vẻ hùng vĩ, uy nghi, rộng lớn, cảm giác như một các lòng chảo lớn giữa vùng đồng bằng sông cửu long đươc bao quanh bởi các ngọn núi san sát liền kề. Vì ở trên độ cao như vậy, là điều khiến cho khí hậu ở đây trở nên vô cùng mát mẻ, thanh khiết với cảnh sắc thiên nhiên sinh động, người dân đặt cho nó với cái tên là Đà Lạt thứ 2 của vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Núi Cấm từ ngày xa xưa đã được biết đến là ngọn núi linh thiêng, huyền bí nhất trong vùng Bảy núi. Về tên gọi cũng là một vấn đề luôn được du khách quan tâm, bởi nó còn có tên gọi chính thức bằng văn tự là Cấm Sơn. Trong sách còn miêu tả danh lam thắng cảnh này là một nơi “thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt,…” Còn theo tương truyền trước đây ngọn núi còn có tên gọi khác ấn tượng hơn là Đoài Tốn.

Truyền thuyết kể lại rằng, xưa núi Cấm là khu vực vô cùng nguy hiểm, hiểm trở lai có cả những loài thú hung dữ, không một ai dám đến đó ngoai trừ những nhân vật siêu nhiên mà được người dân tương truyền kể lại. Đây là một khu vực linh thiêng, ngày xưa tướng Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn vây đuổi đã chạy trốn ở đây và không cho phép ai vào nên từ đó người dân gọi đây là núi Cấm.

Vào mùa xuân, là khí hậu thích hợp nhất để ngao du ngắm cảnh, tiết trời mát dịu nhẹ, cây cối xanh tươi đua nhau khoe sắc. Đặc biệt ở trên các chop núi càng cao thì về đêm khí hậu càng trở nên lạnh, sáng sớm còn được tận mắt thấy sương mai phủ đầy giăng kín cả lối đi. Từ trên cao nhìn xuống, là toàn cảnh đồng lúc mênh mông, bát ngát, bạt ngàn trải dài đến tận vùng biển Hà Tiên và biên giới Tây Nam. Núi cấm quanh năm mây mù giăng phủ, trên đỉnh núi có đỉnh Bát Tiên là nơi mà du khách có thể ngắm nhìn biển Hà Tiên hay dãy núi Tà Lơn trên mảnh đất địa Campuchia. Từ chân núi lên đến đỉnh núi đều được tráng nhựa để thuận tiên đi lại, hai bên đường là những vách đá thẳng đứng sừng sững làm bệ cho những dòng thác chảy ào ạt. Núi Cấm được bao bọc trong những rừng cây xanh ngút bạt ngàn đan xen những cây cỏ hoa lá sắc màu, khung cảnh toát lên vẻ yên bình, thanh tĩnh, tươi mát như cõi bồng lai tiên cảnh.

Dưới chân núi chệch về hướng đông của núi Cấm là khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm, là nơi phục vụ các đa dạng các loại hình giải trí, nhà hàng, khách sạn với diện tích rộng khoảng 100ha. Từ chân núi đi theo lối mòn của núi du khách sẽ lại một lần nữa đắm chìm vào sự tươi mát, thoáng đãng của dòng suối Thanh Long. Đây là dòng suối có nguồn gốc bắt nguồn từ mạch nước ngầm trong lòng đá len lỏi qua các khe đá tạo nên một dòng suối lớn. Được đắm mình vào dòng nước trong vắt, mát lành, nghe tiếng róc rách của nước chảy như xua tan đi sự mệt mỏi tất bật của cuộc sống hằng ngày.Tiếp tuc di chuyển trên đường mòn du khách lại được ghé thăm động Thủy Liêm. Tiếp đó sẽ đi qua chùa Phật Lớn rồi đến chùa Vạn Linh những nơi linh thiêng cao quý là sẽ đến đỉnh cao nhất của núi Cấm là Vồ Bò Hong.

Ngoài ra có vồ Ông Bướm, vồ Bà, vồ Thiên Tuế là những nơi mà du khách thường đến chiêm bái, đãnh lễ hành hương. Đi từ chân núi lên đến đỉnh núi đều là những địa điểm hấp dẫn, mỗi nơi lại có những sự tích li kì riêng biệt, làm nên một không gian huyền ảo, sống động mang đầy màu sắc tín ngưỡng, truyền thống của dân tộc. Với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, rừng cây bạt ngàn sừng sững trăm năm tất cả đã góp phần tạo nên một núi Cẩm hùng vĩ, nên thơ, trở thành một khu du lịch sinh thái lí tưởng mỗi khi nhắc đến An Giang.

Đến khám phá núi Cấm, ngoài cảnh quan sinh động huyền bí còn là sự đa dạng về nhiều loại ẩm thực đặc trưng như xoài núi, mít núi, sầu riêng, mảng cầu núi. Nói đến địa điểm ấn tượng khi du lịch núi Cấm phải kể đến tượng phật Di Lặc, được coi là một công trình kiến trúc đồ sộ nhất từ trước đến nay trên vùng Bảy Núi.

Bức tượng phật Di Lặc với chiều cao 3360m đứng trong hàng cao nhất Đông Nam Á vẫn sừng sững trải qua bao thăng trầm của thời gian. Điều ấn tượng là dù ở bất cứ chổ nào trên các vồ núi cũng có thể ngắm nhìn chiêm ngưỡng hình tượng phật trắng sáng uy nghi giữa cả một vùng trời rộng lớn với sự hiền từ bao dung và thánh thiện.

Núi Cấm giờ đây đã trở thành địa điểm hành hương, bái lễ của du khách, là nơi linh thiêng, huyền bí thu hút với vẻ uy nghi rộng lớn đến khó tả. Núi Cấm mang vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí nơi giao thoa giữa đất trời chìm đắm trong chiều dài lịch sử hơn một thế kỷ. Giữa một vùng trời tươi mát, giữa bạt ngàn rừng cây xanh trái ngọ của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Núi Cấm hiện lên sừng sững giữa không gian mang đến cho du khách một cảm giác dịu êm, một khúc ca lãng du hoang sơ em dịu giữa đồng bằng rộng lớn.

Bình luận (0)
Trần Thọ Đạt
Trần Thọ Đạt CTV 23 tháng 1 2019 lúc 20:09

1 phút thì đừng mơ nha bạn :)

Bình luận (1)
Trần Thọ Đạt
Trần Thọ Đạt CTV 23 tháng 1 2019 lúc 20:11

Gợi ý:

Nguồn gốc bánh chưng: nó là loại bánh xuất hiện từ xa xưa theo sự tích bánh chưng bánh dày Hình dáng và đặc điểm bánh chưng Hình dáng: Vuông, bọc kín gói bằng dây Nguyên liệu: gói bằng lá dong, làm từ gạo nếp, đỗ xanh, thịt, hành, hạt tiêu, … Cách làm bánh chưng Công đoạn chuẩn bị: nguyên liệu, bếp,.. Công đoạn gói bánh: gói bánh chưng trong một cái khung hình vuông bằng gỗ, cho nguyên liệu( thịt, gạo nếp, đỗ xanh, hành,..) , cố định gói bánh lại bằng hai dây…) Công đoạn nấu: xếp bánh vào nồi, đun trong tám tiếng với lửa nhỏ Ý nghĩa của Bánh chưng Món ăn quen thuộc mỗi ngày tết Món ăn tinh thần đối với người dân Việt, trở thành một nét văn hóa đẹp Biểu tượng cho đất, nơi con người sinh sôi nảy nở

Bình luận (1)
Minh Nguyệt
Minh Nguyệt CTV 23 tháng 1 2019 lúc 20:21

Tham khảo:

I. DÀN Ý 1. Mở bài: * Giới thiệu chung: - Bánh chưng xuất hiện từ lâu đời, gắn liền với truyền thuyết về hoàng tử Lang Liêu, người làm ra bánh chưng, bánh giày. - Bánh chưng được dùng để dâng cúng trời đất, tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc. 2. Thân bài: * Hình thức chiếc bánh chưng: - Bánh chưng hình vuông, mỗi bố độ gang tay, đày chừng năm, sáu phân. - Hình thức trông giản dị, mộc mạc vi được gỏi bằng lá dong và buộc bằng lạt giang chẻ mỏng * Nguyên liệu làm bánh chưng: - Lá đong cắt cuống, rửa sạch, lau khô. Lạt giang nhúng nước cho mềm. - Gạo nếp vo kĩ, ngâm nước một đêm, xả cho ráo. * Đậu xanh đãi sạch vỏ. - Thịt lợn (heo) thường là thịt lưng có cả nạc lẫn mỡ, thái miếng to bằng nửa bàn tay, ướp muối, tiêu, hành... * Cách gói bánh chưng: - Trải lá dong ra mâm (hoặc nong), xúc một bát gạo nếp đổ vào, dàn đều rổi đổ nửa bát đỗ xanh, xếp thịt vào giữa, đổ thêm nửa bát đỗ và một bát gạo nữa. Tãi cho gạo phủ kín đậu và thịt. Đậy lá dong lên rổi gấp và bẻ cho vuông bốn góc. Buộc chặt bằng tám chiếc lạt giang. - Xếp đứng từng cặp bánh vào thùng nấu, đáy thùng lót cuống lá dong. Đổ ngập nước, đun đểu lửa tử sáu đến tám tiếng đóng hổ. - Vớt bánh ra cho nguội rồi xếp thành hàng trôn ván hoặc chõng', trên để một tấm ván nữa, dằn bằng cối đả hoặc vật nặng, bánh ráo nước mới dẻo. Hương vị bánh chưng. - Gạo nếp dẻo, đỗ xanh bùi, thịt béo, hành, hạt tiêu thơm... hoà quyện nên hương vị đặc biệt không thứ bánh nào có được. - Bánh chưng được làm bằng những sản phẩm nông nghiệp do người nông dân vất vả tạo ra. - Bánh hình vuông tượng trưng cho mặt đất với cây CỐI, muông thú... Lá bọc kín, lật buộc chặt có ý nghĩa yêu thương lẫn nhau. - Bánh chưng vừa là sáng tạo vật chất, vừa là sáng tạo tinh thần mang đậm đà ấn của người Việt cổ. 3. Kết bài: * Cảm nghĩ của em: - Cảnh gói bánh chưng ngày Tốt thật vui vẻ, đầm ấm.

- Trôn bàn thờ tổ tiên phải có bánh chưng mới gợi được không khí thiêng liêng của ngày Tết Nguyên Đán.

II. BÀI LÀM

Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là cái Tốt cổ truyền đã có tự ngàn xưa với “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh*. Trên bàn thờ ngày Tết của mỗi nhà, nhất thiết phải có bánh chưng. Truyền thuyết kể rằng hoàng tử Lang Liêu con vua Hùng đã được thần linh mách bảo, dùng lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn... làm ra thứ bánh này để cúng Trời Đất, Tiên Vương và dâng lên vua cha. Nhờ đó mà chàng được vua cha truyền cho ngôi báu. Cũng từ đấy, bánh chưng được dùng để cúng vào dịp Tết. Tục lệ tốt đẹp ấy còn tổn tại cho tới ngày nay. Nhìn hình thức chiếc bánh chưng, chủng ta thấy mộc mạc, giản dị vô cùng; nhưng để làm ra nó thì lại tốn không ít công phu. Cứ đến hăm bảy, hăm tám Tết là các bà phải lo đi chợ mua lá dong cùng với mấy bó lạt giang. Lá dong phải to bản, lành lặn. Tốt nhất là lá dong bánh tẻ, không già, không non thì gói bánh mới đẹp. Lạt giang chẻ sẵn, mỏng và mềm, màu vàng ngà, rất ăn ý với lá dong xanh.

Gạo nếp cái hoa vàng vừa dẻo vừa thơm được ngâm từ đêm trước, đem xả rồi xóc cho ráo nước. Đậu xanh đãi sạch vỏ. Thịt lợn xắt miếng to cỡ nửa bàn tay, ướp muối, tiêu cho thấm. Lá dong đã được cắt cuống, rửa sạch, lau khô... Tất cả bày sẵn ra chiếc nong, chờ người gói. Cảnh gói bánh chung ngày Tết mới vui vẻ và đầm ấm làm sao! cả nhà quây quẩn quanh bà. Bà trải lá ra mâm rổi đong một bát gạo đổ vào, dàn đểu rổi đổ nửa bát đỗ, xếp hai miếng thịt, lại thêm nữa bát đỗ, một bát gạo nữa. Tay bà khéo léo tãi gạo che kín đỗ và thịt rồi nhẹ nhàng bẻ bốn gốc lá cho vuông vức, sau đó xiết chặt từng chiếc lạt. Chẳng mấy chốc, chiếc bánh chưng đã dược gói xong. Suốt một buổi sáng tíu tít, bận rộn, bà mới gói hết thúng gạo. Bố tôi buộc bánh thành từng cặp rồi xếp vào chiếc nổi thật lớn chuyên dùng để luộc bánh. Đám trẻ được bà gói cho mỗi đứa một chiếc bánh chưng be bó. Chùm bánh ấy để ở trôn cùng và sẽ vớt ra trước nhất.

Phía góc sân, bếp lửa đã cháy đều. Năm nào, ông tôi hoặc bô' tôi cũng chịu trách nhiệm vụ canh lửa, canh nước cho nổi bánh. Những gộc tre, gộc củi tích trữ quanh năm giờ được đem ra đun. Ngọn lửa nhảy nhót réo ù ù, tàn :han tí tách bắn ra xung quanh những chấm đỏ rực trông thật vui mắt. ông tỏi bảo phải đun cho lửa cháy thật đểu thì bánh mới rền, không bị hấy. Anh em tôi xúm xít bên ông, vừa hơ tay cho khỏi cóng, vừa nghe ông kể chuyện ngồi xửa ngày xưa. Đến những đoạn thú vị, ông cười khà khà, rung cả chòm răng bạc.

Khoảng tám giờ tối thì bố tôi dỡ bánh, xếp rải ra trên chiếc chõng tre ngoài hiên. Hơi nóng từ bánh bốc lên nghi ngút, toả ra một mùi thơm ngậy. Bô' tôi đã chuẩn bị hai tấm ván gỗ và chiếc cối đá để nén bánh. Khó có thể tả nổi niềm sung sướng, hân hoan của lũ trẻ chúng tôi khi được nếm chiếc bánh chưng nhỏ xinh, nóng hổi. Nếp dẻo, dỗ bùi, thịt béo., ngon quá là ngon ! Tưởng chừng như chẳng có thứ bánh nào ngon hơn thế. Chiều ba mươi Tết, trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, hương trầm nghi ngút, những cặp bánh chưng xanh được trân trọng bày bên cạnh đĩa ngũ quả, hộp trà, hộp mứt, chai rượu... và mâm cỗ tất niên để cúng Trời Đất, tổ tiên, đón các cụ về ăn Tết cùng con cháu. Nỗi xúc động rưng rưng trong lòng mỗi người. Không khí thiêng liêng của ngày Tết thực sự bắt đầu.

Bình luận (1)
 ❀◕ ‿ ◕❀ Honey Bear
❀◕ ‿ ◕❀ Honey Bear 16 tháng 12 2017 lúc 17:48

a) Mở bài: Giới thiệu khái quát về loại bánh chưng

b) Thân bài: – Nguồn gốc của bánh chưng : liên quan đến hoàng tử Lang Liêu của vua Hùng Vương thứ 6, nhắc nhở con cháu nhớ đến truyền thống dân tộc và coi trọng nền văn minh lúa nước. – Quan niệm về loại bánh này: Bánh chưng thì tượng trưng chi đất,nhắc sự biết ơn. Tôn trọng mảnh đất đã nuôi sống con người Việt Nam cũng như nhấn mạnh nền văn minh lúa nước của dân tộc.

– Quá trình chuẩn bị nguyên liệu:

Lá dong, lá chuối Gạo nếp thơm ngon Thịt mỡ, đạu xanh làm nhân bánh

– Quá trình chế biến:

Gói bánh Luộc bánh Ép và bảo quản sau khi bánh chịn

– Sử dụng bạnh

Chọn bánh đẹp để đặt cúng trên bàn thờ tổ tiện Làm quà biếu cho người thận Dùng để đãi khạch Dùng để dùng trong gia định

– Vị trí của bánh trong ngày tết

c) Kết bài

Ýnghĩa của bánh chưng trong văn hóa truyền thống của dân tôc Việt Nam

Bình luận (1)
meo con
meo con 11 tháng 1 2018 lúc 19:37

1.Mở bài:

Giới thiệu vài nét đơn giản về bánh chưng.

2. Thân bài

– Nguồn gốc bánh chưng

Bánh chưng được ra đời từ rất lâu, loại bánh này có liên quan đến Lang Liêu trong thời vua Hùng Vương thứ 6, đây chính là người đã làm ra. Bánh chưng luôn muốn nói rằng sự quan trọng vai trò hết sức lớn lao của nền văn minh lúa nước.

– Ý nghĩa của loại bánh này

Bánh chưng mô phỏng và tượng trưng cho đất, nhắc nhớ con người phải biết ơn mảnh đất đã nuôi sống chúng ta.

– Cách làm thế nào

Chuẩn bị nguyên liệu:

+ Lá dong, lá chuối dùng gói bánh

+ Gạo nếp ngon

+ Thịt mỡ, đậu xanh làm nhân bánh

Thực hiện:

+ Công đoạn gói bánh

+ Công đoạn luộc bánh

+ Công đoạn ép và bảo quản bánh khi bánh chưng đã chín.

Bánh chưng dùng làm gì ?

+ Bánh chưng để biếu cho người thân, bạn bè.

+ Dùng chiêu đãi khách đến nhà.

+ Thờ cúng tổ tiên trong ngày tết.

– Tầm quan trọng, vị thế của bánh chưng

3. Kết bài

Bánh chưng loại bánh có truyền thống lâu đời trong lịch sử dân tộc, trải qua hàng nghìn năm bánh vẫn không có nhiều sự thay đổi và vẫn giữ nguyên tinh thần đến ngày nay. Bánh chưng vẫn là nét đẹp trong ẩm thực và nhắc nhở con người về nền văn minh lúa nước

Bình luận (0)
 ❀◕ ‿ ◕❀ Honey Bear
❀◕ ‿ ◕❀ Honey Bear 16 tháng 12 2017 lúc 17:47

I. Mở bài: giới thiệu món ăn yêu thích Vào mỗi dịp tết, chúng ta thường làm các món ăn truyền thống như: bánh tét, bánh giày, mứt,…. Những môn ăn này luôn có mặt trong tất cả các lễ tết. một món bánh truyền thống có từ lâu đời, có vào các ngày lễ. một món ăn mà em rất yêu thích là bánh chưng. Món ăn này rất ngon và bổ ích, em rất thích ăn bánh chưng. II. Thân bài: thuyết minh về bánh chưng 1. Nguồn gốc bánh chưng: - Sự tích bánh chưng: + Bánh chưng được lưu truyền thuyết liên quan đến hoàng tử Lang Liêu vào đời vua Hùng thứ 6 + Món bánh này nói đến sự nhắc nhở của Vua đến sự quan tâm đến và biết ơn đến lúa nước. - Quan niệm truyền thống của bánh chưng: + Bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa + Bánh chưng tượng trưng cho trời 2. Nguyên liệu làm bánh: - Lá gói bánh - Lạc buột - Gạo nếp - Đỗ xanh - Gia vị khác - Phụ màu 3. Quy trình chuẩn bị gói bánh: - Lá gói bánh: lá dong hoặc lá chuối, rửa lá cho sạch rồi phơi khô - Gạo nếp: được vo sạch, ngâm để hạt được mềm - Đỗ xanh: ngâm tách vỏ, giã nguyễn, trộn với thịt - Thịt lợn: rửa sạch, cắt nhỏ và ướt gia vị 4. Quy trình thực hiện: - Gói banh: bánh được gói bằng tay, khuôn bánh khoảng 25 cmx 25cm - Luộc bánh: bánh được luộc trong nước, và luộc khoảng 10 đến 12 tiếng - Sử dụng bánh + Bánh được dung để cúng vào ngày tết + Bánh dược dung để đón tết + Bánh được dung để biếu người thân III. Kết bài: cảm nghĩ của em về món ăn em yêu thích - Bánh chưng là món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam - Chúng ta nên lưu giữ truyền thống của dân tộc

Bình luận (0)
Magic Kid
Magic Kid 22 tháng 1 2017 lúc 17:01

bạn hỏi j zậy

Bình luận (0)
Loading...