Ngâm xương ếch trong dung dịch HCl 10% .Hỏi sẽ có truyện gì sảy ra với xương ếch đó ?Tại sao?
Ngâm xương ếch trong dung dịch HCl 10% .Hỏi sẽ có truyện gì sảy ra với xương ếch đó ?Tại sao?
vì trong xương có muối khoáng và khi ngâm trong axit HCl các muối khoáng này đã bị phân hủy hết nên khi gắp xương đã ngâm ra khỏi axit và rửa qua bằng nước sạch thì xương trở nên mềm dẻo , có thể uốn cong được .
sau đó xương ếch sẽ hết cứng dễ gãy vì khi bỏ vào dung dịch HCL 10% thì canxi trong xương sẽ bị bị sủi bọt và xương sẽ mềm
ngâm 1 xương đùi ếch trong dung dịch HCl 10% ta sẽ thấy bọt khí nổi lên, đó là tác dụng giữa HCl với CaCO3 trong xương ( chất vô cơ). Sau 10 - 15' vớt xương ra bóp nhẹ thấy mềm dẻo .
Khi ngâm xương đùi ếch trong dung dịch axit clohidric 10 %, chất nào đã mất đi ?
Khi ngâm đùi ếch vào \(HCl\) 10 % , muối khoáng có trong đùi ếch sẽ bị phân hủy
mất đi chất vô cơ, vì HCl tác dụng với CaCO3(canxi cabonat) trong xương sản sinh ra CO2
cấu tạo và thành phần hóa học của xương
I - Cấu tạo của xương
1. Cấu tạo xương dài (hình 8-1->2)
Cấu tạo một xương dài gồm có :
- Hai đầu xương là mô xương xếp có các nan xương xếp theo kiểu vòng cung, tạo ra các ô trống chứa tủy đỏ. Bọc hai đầu xương là lớp sụn.
- Đoạn giữa là thân xương. Thân xương hình ống, cấu tạo từ ngoài vào trong có: màng xương mỏng, tiếp đến là mô xương cứng, trong cùng là khoang xương. Khoang xương chứa tủy xương, ở trẻ em là tủy đỏ ; ở người già tủy đỏ được thay bằng mô mỡ màu vàng nên gọi là tủy vàng.

Hình 8-1. Cấu tạo xương dài Hình 8-2. Cấu tạo đầu xương dài
(xương đùi)
2. Chức năng của xương dài
Bảng 8-1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng của xương dài

3. Cấu tạo xương ngắn và xương dẹt
Xương ngắn (hình 8-3) và xương dẹt không có cấu tạo hình ống, bên ngoài là mô xương cứng, bên trong lớp mô xương cứng là mô xương xốp gồm nhiều nan xương và nhiều hốc xương nhỏ (như mô xương xốp ở đầu xương dài) chứa tủy đỏ.

Hình 8-3. Cấu tạo xương ngắn điển hình là đốt sống
II- Sự to ra và dài ra của xương
Xương to ra về bề ngang là nhờ các tế bào màng xương phân chia tạo ra những tế bào mới đẩy vào trong và hóa xương.
Ở tuổi thiếu niên và nhất là ở tuổi dậy thì thì xương phát triển nhanh. Đến 18-20 tuổi (với nữ) hoặc 20-25 tuổi (với nam) xương phát triển chậm lại. Ở tuổi trưởng thành, sụn tăng trưởng, không còn khả năng hóa xương, do đó người không cao thêm. Người già, xương bị phân hủy nhanh hơn nhờ sự tạo thành, đồng thời tỉ lệ cốt giao giảm, vì vậy xương xốp, giòn, dễ gãy và sự phục hồi xương gãy diễn ra rất chậm, không chắc chắn.

Hình 8-4. Phim chụp sụn tăng trưởng ở xương trẻ em Hình 8-5 Vai trò của sụn tăng trưởng trong sự dài ra của xương
III. Thành phần hóa học và tính chất của xương
Xương được cấu tạo từ chất hữu cơ gọi là cốt giao và chất khoáng chủ yếu làm cho xương bền chắc, cốt giao đảm bảo tính mềm dẻo. Tỉ lệ chất cốt giao thay đổi theo tuổi.
1 xương dài có :
- 2 đầu xương có :
+ sụn đầu xương
+Cấu tạo bằng các nan xương hình vòng cung tạo ra các ô chứa tủy
- thân xương có :
+ ngoài cùng là màng xương
+trong màng là mô xương cứng
+ trong mô xương cứng là khoang xương
thành phần hóa học của xương có chất hữu cơ và chất khoáng giúp cho xương rắn chắc và mềm dẻo
Vì sao khi ninh xương lâu nước xương lại ngọt và xương lại bở?
Xương động vật được ninh (đun sôi lâu) thì bở vì: Khi ninh xương, chất cốt giao bị phân hủy, nước hầm xương trở nên sánh và ngọt, phần xương còn lại là chất vô cơ không được liên kết bởi cốt giao => xương trở nên bở.
Vì khi hầm xương bò , lợn...chất cốt giao bị phân huỳ vì vậy nước hầm xương được sánh và ngọt.Phần xương còn lại là chất vô cơ không được liên kết bởi cốt giao nên còn bở.
neu cach xu li tinh huong khi bi gay tay hoac gay chân
giúp minh voi sap nop rui
Đối với trường hợp gấp được khớp khuỷu:
Nếu gãy xương cánh tay, cần để cánh tay bị gãy sát thân mình bệnh nhân, cẳng tay vuông góc với cánh tay (tư thế co). Tiếp theo đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ bả vai đến quá khớp khuỷu. Có thể dùng nẹp Cramer làm thành góc 90 độ đỡ cả cánh tay và cẳng tay băng lại. Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp: một ở trên và một ở dưới ổ gãy. Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay để ngửa. Dùng băng rộng bản băng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành.
Nếu gãy xương cẳng tay, cần để cẳng tay bị gãy sát thân mình bệnh nhân, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa. Dùng hai nẹp, nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu. Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay, thân cẳng tay (trên, dưới ổ gãy). Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực.
Đối với trường hợp không gấp được khuyủ tay:
Không được cố dùng sức để gấp khuỷu tay. Hướng dẫn nạn nhân dùng tay lành đỡ tay bị thương vị trí đó nếu có thể. Ðặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân. Buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải băng rộng bản ở các vị trí: Quanh cổ tay và đù; Quanh cánh tay và ngực; Quanh cẳng tay và bụng. Đặt nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân rồi đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được kiểm tra, đánh giá lại và điều trị đúng.
Lưu ý:
Nẹp phải đảm bảo đủ độ dài, rộng và dày, đối với nẹp gỗ có kích thước dài 35 - 45cm, rộng 5 - 6mm, nếu không có thì sử dụng nẹp bằng tre hay bất kỳ vật liệu gì sẵn có.
Đối với băng dùng để buộc cố định nẹp, băng phải đảm bảo: Rộng bản, dài vừa phải, bền chắc. Nếu không có băng thì có thể dùng các dải dây buộc. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cũng có sẵn các vật dụng để cố định gãy xương nên người ta thường dùng khăn tam giác để bất động tạm thời một số loại gãy xương và dùng nẹp cơ thể như: cố định chi gãy vào chi lành, buộc tay vào ngực,...
Nếu xương chồi ra ngoài vết thương không kéo đầu xương gãy vào trong, băng bó vết thương rồi mới cố định theo tư thế gãy. Cầm máu bằng cách ép mép vết thương sát vào đầu xương. Nhẹ nhàng đặt một miếng gạc hoặc miếng vải sạch lên trên đầu xương chồi ra. Ðặt một vành khăn hoặc một đệm bông hình bán nguyệt lên trên vết thương. Băng cố định gạc vào vùng đệm bằng băng cuộn. Xử trí các bước tiếp theo như gãy xương kín. Sau đó, chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế ngay và theo dõi sát tình trạng toàn thân của nạn nhân.
Xương rắn chắc là do đâu?
Xương mềm dẻo là do đâu?
Vì sao khi ngồi học phài ngồi đúng tư thế?
-xương rắn chắc đó đầy đủ canxi va muối khoáng
-xương mềm dẻo lượng cốt giao vs muối khoáng trong xương nhiều
-vì nếu ngồi học ko đúng tư thế xương sẽ bị cong vẹo,ko thắng,dễ gây đau lưng.có thể dẫn đến tật nguyền![]()
xương rắn chắc là do có chất vô cơ , chủ yếu là muối canxi
xương mềm dẻo là do chất hữu cơ ( chất cốt ginô )
ngồi học phải ngồi đúng tư thế là vì làm như thế xương sẽ không phát triển được và gây cong vẹo cột sống .
Ngồi học ko đúng tư thé sẽ bị gầy gụ vẹo cột sống
Công của cơ được sử dụng vào mục đích nào ?
Công của cơ được sử dụng trong các thao tác vận động trong lao động. Nếu có một lực F tác động vào vật làm vật dịch chuyển t quãng đường s theo phương của lực thì sản sinh một công là : A = Fs.
Hãy giải thích nguyên nhân của sự mỏi cơ.
@Silver bullet giúp mk ít câu nữa nha
Sự ôxi hoá các chất dinh dưỡng do máu mang tới, tạo ra năng lượng cung cấp cho sự co cơ, đồng thời sản sinh ra nhiệt và chất thải là khí cacbônic.
Nếu lượng ôxi cung cấp thiếu thì sản phẩm tạo ra trong điều kiện thiếu ôxi là axit lactic. Axit lactic bị tích tụ sẽ đầu độc làm cơ mỏi.
Nguyên nhân mỏi cơ :
+Cung cấp oxi thiếu
+Năng lượng thiếu
+Axit latic tích tụ trong cơ => đầu độc cơ
Hằng ngày lập thể dục buổi sáng đều đặn và dành 30 phút buổi chiều để tham gia thể thao. Chú ý đừng vui chơi quá sức, ảnh hưởng đến lao động và học tập. Hãy theo dõi sự phát triển của cơ sau 3 tháng.
Câu cuối
Sau 3 tháng , các loại có trên cơ thể phát triển : cơ bụng , cơ ngực , cơ tay và cơ chân phát triển .
Rèn luyện cơ và thân thể theo hướng dẫn trong sách giáo khoa, theo dõi sự phát triển của cơ thể và rút kinh nghiệm để điều chỉnh sự rèn luyện tiếp theo sao cho phù hợp.
Nêu cấu tạo và tính chất của xương.
Xương gồm 2 thành phần chính:
- Chất hữu cơ: Chất cốt giao
- Chất vô cơ: Muối canxi
Tính chất của xương: rắn chắc và đàn hồi (có tính mềm dẻo)
Xương gồm 2 thành phần chính:
Chất hữu cơ: chất cốt giáoChất vô cơ: canxiTính chất của xương: rắn chắc và đàn hồi ( có tính mềm dẻo)
Xương có cấu tạo gồm các chất hữu cơ và chất vô cơ. Chất vô cơ có tính chất cứng chắc chống đỡ được sức nặng của cơ thể và trọng lượng mang vác, chất hữu cơ có tính mềm dẻo để chịu lực tác động làm cho xương không bị giòn không bị gãy
nhờ có cấu tạo gồm các chất hữu cơ và vô cơ mà xương có 2 tính chất: rắn chắc và đàn hồi