Bài 48: Đa dạng của lớp thú, bộ thú huyệt, bộ thú túi

B.Thị Anh Thơ
B.Thị Anh Thơ 28 tháng 6 2020 lúc 15:06

* Dựa vào bộ răng để phân chia các bộ thú :

- Bộ ăn sâu bọ : răng cửa , rang nanh , răng hàm đều nhọn

- Bộ ăn thịt : răng của nhỏ , răng nanh dài nhọn để xé thức ăn, răng hàm dẹp bền và sắc để nghiền thức ăn

- Bộ gặm nhấm: Răng cửa lớn dài hơi chìa ra trước để gặm nhấm các loài , có khoảng trống hàm.

Bình luận (0)
Trúc Giang
Trúc Giang CTV 18 tháng 6 2020 lúc 10:19

*Kiểu bay vỗ cánh:

- Đập cánh liên tục

- Khả năng bay chủ yếu dựa vào sự vỗ cánh

Ví dụ: bồ câu

*Kiểu bay lượn:

- Cánh đập chậm rãi, không liên tục, cánh dang rộng mà không đập

- Khả năng bay chủ yếu dựa vào sự nâng đỡ của không khí và sự thay đổi luồng gió

Ví dụ: hải âu

Bình luận (0)
ミ★ღ๖ۣۜPhoenixღ ★彡
ミ★ღ๖ۣۜPhoenixღ ★彡 16 tháng 6 2020 lúc 22:11

Lớp Thú (danh pháp khoa học: Mammalia /məˈmeɪli.ə/, còn được gọi là Động vật có vú hoặc Động vật hữu nhũ) là một nhánh động vật có màng ối nội nhiệt được phân biệt với chim bởi sự xuất hiện của lông mao, ba xương tai giữa, tuyến vú, và vỏ não mới (neocortex, một khu vực của não). Não bộ điều chỉnh thân nhiệt và hệ tuần hoàn, bao gồm cả một trái tim bốn ngăn. Lớp Thú bao gồm các động vật lớn nhất còn sinh tồn (như cá voi xanh và một vài loài cá voi khác), cũng như những động vật thông minh nhất - như voi, vài loài linh trưởng và cá voi. Kích thước cơ thể động vật có vú dao động từ 30–40 mm (1,2–1,6 in) dơi ong nghệ tới 33 mét (108 ft) cá voi xanh.

Tên khoa học Mammalia được đặt bởi Carl Linnaeus năm 1758, xuất phát từ tiếng Latin mamma ("vú"). Tất cả con cái cho con bú bằng sữa tiết ra từ tuyến vú. Theo Mammal Species of the World, 5.416 loài được biết đến vào năm 2006. Lớp Thú được phân thành 1.229 chi, 153 họ và 29 bộ Năm 2008, IUCN đã hoàn thành việc khảo sát đánh giá động vật có vú toàn cầu kéo dài 5 năm với sự tham gia của 1.700 nhà khoa học để lập Sách đỏ IUCN, trong đó ghi nhận 5.488 loài được công nhận vào cuối thời kỳ đó.

Trừ 5 loài thú đơn huyệt (đẻ trứng), tất cả động vật có vú còn lại đều đẻ con. Ba bộ đa dạng và giàu số lượng loài nhất là Bộ Gặm nhấm (chuột, chuột cống, hải ly, chuột lang nước, chuột lang, và các loài khác), Bộ Dơi (dơi), và Bộ Chuột chù (chuột chù, chuột chũi và solenodon). Các bộ đa dạng khác là Bộ Linh trưởng, Bộ Guốc chẵn, và Bộ Ăn thịt (mèo, chó, chồn, gấu, hải cẩu và họ hàng).[1] Trong khi việc phân loại các động vật có vú ở cấp độ họ đã tương đối ổn định, phương pháp phân loại khác nhau ở các cấp độ cao hơn- cận lớp, phân lớp, siêu bộ - xuất hiện trong sách vở đương thời, đặc biệt là cho các loài thú có túi. Thay đổi nhiều trong thời gian gần đây đã phản ánh kết quả phân tích di truyền phân tử. Kết quả từ di truyền phân tử đã dẫn đến việc áp dụng các nhóm mới như Afrotheria và việc từ bỏ các nhóm truyền thống như sâu bọ.

Loài tổ tiên của động vật có vú thuộc nhóm synapsid (Mặt thú), một nhóm bò sát bao gồm cả Dimetrodon, pelycosaurs, sphenacodont... Vào cuối kỷ Cacbon, nhóm này tách ra từ dòng sauropsid (nhóm Mặt thằn lằn, đã phát triển thành các loài bò sát, cá sấu, khủng long và các loài chim ngày nay). Là hậu duệ của 1 loài synapsid (đôi khi được gọi là bò sát giống động vật có vú), các động vật có vú đầu tiên xuất hiện trong kỉ Creta (phấn trắng) thời đại Trung Sinh, khoảng 225 triệu năm trước. Các loài động vật có vú hiện đại xuất hiện trong các giai đoạn của kỷ Paleogen và Neogen, sau sự tuyệt chủng của loài khủng long 66 triệu năm trước đây.

Những bằng chứng chứng minh các nhóm động vật có mối quan hệ về nguồn gốc:

- Lưỡng cư có nguồn gốc từ cá vây chân cổ. Lưỡng cư cổ có đặc điểm giống cá vây chân cổ: vây đuôi, di tích nắp mang, thân có vảy. Nòng nọc giống cá.

- Bò sát có nguồn gốc từ lưỡng cư cổ. Bò sát cổ có đặc điểm giống lưỡng cư cổ: có 1 đốt sống cổ, tim 3 ngăn.

- Chim có nguồn gốc từ bò sát cổ. Chim cổ có đặc điểm giống bò sát cổ: hàm có răng, có đuôi dài, ngón có vuốt.

- Thú có nguồn gốc từ bò sát cổ. Thú giống bò sát cổ: chi nằm ngang, đẻ trứng.

❤~~~ HỌC GIỎI ~~~❤Mẫn Nhi Trương

Bình luận (0)
Trúc Giang
Trúc Giang CTV 10 tháng 6 2020 lúc 17:02

- Đa dạng về số lượng loài, bộ

- Đa dạng về môi trường sống (Vd: ở nước, ở cạn,...)

- Đa dạng về tập tính

- Đa dạng về cấu tạo cơ thể

Bình luận (0)
Trúc Giang
Trúc Giang CTV 9 tháng 6 2020 lúc 18:48

1: Thỏ hoang di chuyền nhanh hơn thú ăn thịt nó, nhưng nó không dai sức bằng, nên càng về sau vận tốc di chuyển càng giảm, lúc đó nó phải làm mồi cho thú ăn thịt.

2: Vì thú mỏ vịt mang các đặc điểm đặc trưng của lớp thú: có tuyến sữa, nuôi con, có lông mao,....... nên nó được xếp vào lớp thú (bộ thú huyệt)

Bình luận (0)
đào phương anh
đào phương anh 8 tháng 6 2020 lúc 22:22

-Đặc điểm của thú mỏ vịt:

+có mỏ giống mỏ vịt

+sống vừa ở nước ngọt, vừa ở cạn, đẻ trứng.

+thú cái có tuyến sữa nhưng chưa có vú.

+có bộ lông không thấm nước

*vì thú mỏ vịt có:

-lớp lông mao dầy và dậm

-đẻ trứng, ***** chưa có núm vú.

-có mỏ dẹp giống mỏ vịt.

cho bạn tham khảo nek! Nhớ tick cho mik nha😊😊

Bình luận (0)
đào phương anh
đào phương anh 8 tháng 6 2020 lúc 22:24

Cái chỗ đấu sao là (c o n m ẹ) đấy. Không hiểu sao lại bị vậy nhỉ🤨🤨

Bình luận (0)
Nguyễn Trần Thành Đạt
Nguyễn Trần Thành Đạt CTVVIP 7 tháng 6 2020 lúc 13:36

– Răng cửa: nhọn, hình nêm có chức năng gặm và lấy thịt ra khỏi xương.

– Răng nanh: nhọn, dài có chức năng cắm chặt vào con mồi và giữ con mồi.

– Răng trước hàm và răng ăn thịt: lớn, sắc và có nhiều mấu có chức năng cắt nhỏ thịt để dễ nuốt.

– Răng hàm: nhỏ, ít sử dụng.

Bình luận (0)
Trúc Giang
Trúc Giang CTV 7 tháng 6 2020 lúc 8:28

Đặc điểm cấu tạo của Dơi thích nghi với đời sống bay: - Chi trước biến đổi thành cánh da. Cánh da là màng da phủ lông mao nối liền cánh tay, ống tay, các xương bàn và xương ngón với mình chi sau và đuôi . - Chân sau yếu có tư thế bám vào cành cây, treo lộn ngược cơ thể. Khi bắt đầu bay chân rời vật bám và tự buông mình từ cao. Đặc điểm của Cá voi thích nghi với đời sống ở nước: - Cơ thể hình thoi, cổ rất ngắn, vây đuôi nằm ngang, lớp mỡ dưới da rất dày. - Chi trước biến đổi thành vây bơi có dạng bơi chèo. Đặc điểm cấu tạo của chim bồ câu thích nghi với đời sống bay: - Thân hình thoi giúp giảm sức cản không khí khi bay. - Chi trước biến thành cánh dạng quạt gió, cản không khí khi hạ cánh. - Chi sau có 3 ngón trước, 1 ngón sau nhằm để chim bám chặt vào cành cây và khi hạ cánh. - Lông ống có các sợi lông làm thành phiến mỏng giúp cho cánh chim khi giang ra tạo thành 1 bề mặt rộng. - Lông tơ có các sợi lông mảnh làm thành chùm lông xốp giúp giữ nhiệt, làm thân chim nhẹ. - Mỏ: Mỏ sừng bao lấy hàm không có răng giúp làm đầu chim nhẹ. - Cổ dài khớp đầu với thân giúp phát huy tác dụng của các giác quan, bắt mồi, rỉa lông.
Bình luận (0)
Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN