Bài 33 : Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành Đồng bằng sông Hồng

Doraemon
31 tháng 3 2017 lúc 22:07

a/ Cơ cấu kinh tế đồng bằng sông Hồng đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm.

– Giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II v à III.

– Trước 1990, khu vực I chiếm tỷ trọng cao nhất (49,5%). Năm 2005, khu vực III chiếm tỷ trọng cao nhất (45%).

b/ Định hướng:

– Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề XH và môi trường.

– Chuyển dịch trong nội bộ từng ngành kinh tế:

+ Trong khu vực I:

Giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và thuỷ sản.

Trong trồng trọt: giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây thực phẩm và cây ăn quả.

+ Trong khu vực II: chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm dựa vào thế mạnh về tài nguyên và lao động: công nghiệp chế biến LT-TP, dệt may, da giày, cơ khí, điện tử…

+ Trong khu vực III: phát triển du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, giáo dục – đào tạo,…

Bình luận (0)
Cô Chủ Nhỏ
31 tháng 3 2017 lúc 22:09

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng diễn ra như thế nào? Nêu những định hướng chính trong tương lai.

a/ Cơ cấu kinh tế đồng bằng sông Hồng đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm.

– Giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II v à III.

– Trước 1990, khu vực I chiếm tỷ trọng cao nhất (49,5%). Năm 2005, khu vực III chiếm tỷ trọng cao nhất (45%).

b/ Định hướng:

– Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề XH và môi trường.

– Chuyển dịch trong nội bộ từng ngành kinh tế:

+ Trong khu vực I:

Giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và thuỷ sản.

Trong trồng trọt: giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây thực phẩm và cây ăn quả.

+ Trong khu vực II: chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm dựa vào thế mạnh về tài nguyên và lao động: công nghiệp chế biến LT-TP, dệt may, da giày, cơ khí, điện tử…

+ Trong khu vực III: phát triển du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, giáo dục – đào tạo,…

Bình luận (0)
Doraemon
31 tháng 3 2017 lúc 22:07

Vị trí địa lý:

+Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc tạo động lực phát triển vùng và các vùng khác

+ Dễ dàng giao lưu kinh tế với các vùng khác và với nước ngoài.

+ Gần các vùng giàu tài nguyên.

b/ Tài nguyên thiên nhiên đa dạng:

Diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000 ha, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp chiếm 51,2% DT vùng.

– Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng.

– Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng.

– Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để phát triển nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, giao thông, du lịch)

– Khoáng sản không nhiều, có giá trị là đá vôi, sét, cao lanh, than nâu, khí tự nhiên.

c/ Điều kiện kinh tế – xã hội:

– Dân cư đông nên có lợi thế:

+ Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao.

+ Tạo ra thị trường có sức mua lớn.

– Chính sách: có sự đầu tư của Nhà nước và nước ngoài.

– Kết cấu hạ tầng phát triển mạnh (giao thông, điện, nước…)

– Cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành ngày càng hoàn thiện: hệ thống thuỷ lợi, các trạm, trại bảo vệ cây trồng, vật nuôi, nhà máy chế biến…

– Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống…với 2 trung tâm KT-XH là Hà Nội và Hải Phòng.

* Hạn chế:

– Dân cư đông, mật độ dân số cao gây khó khăn cho phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

– Chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai.

– Sự suy thoái tài nguyên, môi trường.

Bình luận (0)
Cô Chủ Nhỏ
31 tháng 3 2017 lúc 22:08

Phân tích những nguồn lực ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Đồng bằng sông Hồng.

* Thuận lợi

- Vị trí địa lí: có nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Về mặt tự nhiên, nó nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa Trung du và miền núi Bắc Bộ với Biển Đông rộng lớn. Về mặt kinh tế, Đồng bằng sông Hồng liền kề với vùng có tiềm năng khoáng sản và thủy điện lớn nhất nước ta. Nằm ở trung tâm Bắc Bộ, gần như bao trọn Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng này giống như chiếc cầu nối giữa Đông Bắc, Tây Bắc với vùng Bắc Trung Bộ và Biển Đông. Vì thế, việc giao lưu giữa Đồng bằng sông Hồng với các vùng khác trong cả nước và với các nước trong khu vực và trên thế giới trở nên dễ dàng.

Tài nguyên thiên nhiên:

+ Đất là tài nguyên quan trọng hàng đầu. Đất nông nghiệp chiếm 51,2% diện tích đồng bằng, trong đó 70% là đất có độ phì cao và trung bình, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.

+ Tài nguyên nước ở Đồng bằng sông Hồng rất phong phú (nước mặt, nước dưới đất, nước nóng, nước khoáng).

+ Đường bờ biển dài 400km. Hầu hết vùng bờ biển có điều kiện để làm muối và nuôi trồng thủy sản; bên cạnh đó là khả năng phát triển giao thông vận tải biển và du lịch.

+ Khoáng sản có giá trị nhất là đá vôi, sét, cao lanh. Ngoài ra còn có than nâu và tiềm năng về dầu khí.

- Điều kiện kinh tế - xã hội:

+ Nguồn lao động dồi dào với truyền thống và kinh nghiệm sản xuất Dhong phú. Chất lượng lao động đứng hàng đầu cả nước và tập trung phần lớn ở các đô thị.

+ Cơ sở hạ tầng vào loại tốt nhất so với các vùng trong cả nước. Mạng lưới giao thông phát triển mạnh và khả năng cung cấp điện, nước được đảm bảo.

+ Cơ sở vật chất - kĩ thuật cho các ngành kinh tế đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Đó là hệ thống các công trình thủy lợi, các trạm, trại bảo vệ cây trồng, vật nuôi, các nhà máy, xí nghiệp với năng lực đáng kể...

+ Thị trường tiêu thụ rộng lớn.

+ Có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời.

+ Là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, các làng nghề truyền thống, các trường đại học, viện nghiên cứu...

+ Mạng lưới đô thị tương đối phát triển với hai trung tâm kinh tế - xã hội vào loại lớn nhất cả nước là Hà Nội, Hải Phòng.

* Khó khăn

- Là vùng có số dân đông nhất nước. Mật độ dân số lên đến 1.225 người/km2 (năm 2006), gấp khoảng 4,8 lần mật độ trung bình của cả nước. Vì thế, đã tạo sức ép lớn đối với việc phát triển kinh tế, tài nguyên môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống.

- Chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán.

- Việc khai thác quá mức dẫn đến một số tài nguyên (đất, nước mặt trên,..) bị suy thoái.

- Thiếu nguyên liệu cho phát triển công nghiệp,...

Bình luận (0)
Cô Chủ Nhỏ
31 tháng 3 2017 lúc 22:06

Tại sao phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng?

– Vai trò đặc biệt của Đồng bằng sông Hồng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Là vựa lúa lớn thứ hai của nước ta và là vùng phát triển công nghiệp dịch vụ quan trọng của cả nước.

– Cơ cấu kinh tế theo ngành có nhiều hạn chế không phù hợp với tình hình phát triển hiện nay. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng, công nghiệp tập trung ở các đô thị lớn, dịch vụ chậm phát triển.

– Số dân đông, mật độ cao, việc phát triển kinh tế với cơ cấu cũ không đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống.

– Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả những thế mạnh vốn có, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.

Bình luận (0)
Doraemon
31 tháng 3 2017 lúc 22:06

– Vai trò đặc biệt của Đồng bằng sông Hồng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Là vựa lúa lớn thứ hai của nước ta và là vùng phát triển công nghiệp dịch vụ quan trọng của cả nước.

– Cơ cấu kinh tế theo ngành có nhiều hạn chế không phù hợp với tình hình phát triển hiện nay. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng, công nghiệp tập trung ở các đô thị lớn, dịch vụ chậm phát triển.

– Số dân đông, mật độ cao, việc phát triển kinh tế với cơ cấu cũ không đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống.

– Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả những thế mạnh vốn có, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.

Bình luận (0)
qwerty
6 tháng 4 2016 lúc 8:09

* Thuận lợi:
- Có vị trí địa lí thuận lợi, trong vùng kinh tế trọng điểm
- Là đồng bằng rộng lớn thứ 2 cả nước.
- Địa hình bằng phẳng, đất phù sa, màu mỡ.
- Sông Hồng bồi đắp phù sa, mở rộng diện tích tạo nên vùng châu thổ rộng lớn, cung cấp nước cho sx Nông nghiệp và sinh hoạt.
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, phát triển vụ đông thành vụ sản xuất chính.
- Tài nguyên khoáng sản có: đá vôi, sét, cao lanh, than bùn, khí TN.
- Tài nguyên biển khá phong phú, có thể phát triển tổng hợp kinh tế biển.
- Tài nguyên du lịch đa dạng (...).

* Khó khăn:
- Chế độ nước sông Hồng thất thường (...).
- Thời tiết diễn biến thất thường...
- Đất đai thu hẹp, suy giảm.
- Môi trường đang bị suy thoái

Bình luận (0)
trần myna
29 tháng 12 2016 lúc 9:38

banhqua

Bình luận (0)
trần myna
29 tháng 12 2016 lúc 9:39
I. Khái quát về tâm lý học lứa tuổi

– Đối tượng nghiên cứu:

TLHLT: hiện tượng tâm lý trong từng giai đọan lứa tuổi TLHSP: hiện tượng tâm lý trong quá trình dạy học và giáo dục à hiệu quả tối ưu II. Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em.

1. Khái niệm chung về sự phát triển tâm lý trẻ em.

a) . Quan niệm về trẻ em.

Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em vận động và phát triển theo quy luật riêng.

b) Quan điểm duy tâm về sự phát triển tâm lý trẻ em:

– Thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến, đánh giá không đúng vai trò của giáo dục, phủ nhận tính tích cực của họat động cá nhân

– Thuyết tiền định: yếu tố di truyền/gen quyết định sự phát triển tâm lý.

– Thuyết duy cảm: môi trường xung quanh quyết định sự phát triển tâm lý à muốn nghiên cứu con người chỉ cần phân tích cấu trúc môi trường của họ.

– Thuyết hội tụ hai yếu tố: Sự tác động qua lại giữa di truyền và môi trường quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biến những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn thành hiện thực.

c) Quan điểm duy vật biện chứng:

– Sự phát triển tâm lý của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng. Đó là một quá trình không phẳng lặng mà có khủng hoảng và có đột biến. Chính hoạt động của đứa trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của nó được hình thành và phát triển.

2. Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em.

– Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý

– Tính toàn vẹn của tâm lý

– Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ:

3. Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý:

– Giáo dục,dạy học giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ em.

III. Sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em.

– Tâm lý học Mácxít (Vưgotxki) coi lứa tuổi là một thời kỳ phát triển nhất định đóng kín một cách tương đối, mà ý nghĩa của nó được quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung và ở đó những quy luật phát triển chung bao giờ cũng được thể hiện một cách độc đáo về chất.

– Sự chuyển tiếp từ giai đọan lứa tuổi này sang lứa tuổi khác gắn liền với việc thay đổi tình huống xã hội, xuất hiện cấu tạo tâm lý mới, thay đổi dạng họat động chủ đạo.

– Có sự đan xen giữa các giai đọan bình ổn và khủng hoảng.

CHƯƠNG 2:

TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THIẾU NIÊN (HS TRUNG HỌC CƠ SỞ)

I. Những điều kiện của sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS.

1. Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi học sinh THCS:

– Phát triển nhanh, mạnh nhưng không đồng đềuà biểu hiện tâm lý khó chịu

Hệ xương

Hệ tim mạch

Tuyến nội tiết

Hệ thần kinh

Thời kỳ phát dục

Sự thay đổi của điều kiện sống.

– Được thừa nhận cao hơn nhi đồng.

– Từ vị trí “trẻ con” chuyển dần sang vị trí mới “vừa là trẻ con, vừa là người lớn”

II. Hoạt động giao tiếp của thiếu niên

1/ Giao tiếp với người lớn

– Cấu tạo tâm lý mới: “cảm giác mình là người lớn”.

– Nhu cầu được độc lập, tự khẳng định trong quan hệ với người lớn.

– Xuất hiện nhiều mâu thuẫn.

– Có xu hướng cường điệu hóa.

2/ Giao tiếp với bạn bè

– Nguyện vọng hòa mình vào tập thể, tìm chỗ đứng trong tập thể.

– Quan hệ bạn bè thân thiết “sống chết có nhau”, xây dựng trên bộ luật tình bạn. Trò chuyện tâm tình giữ vị trí quan trọng.

– Xuất hiện tình bạn khác giới quan tâm lẫn nhau, ưa thích lẫn nhau nhưng ở các em nam còn bộc lộ rất vụng về. Tình bạn lành mạnh trong sáng là động lực giúp nhau học tập.

III. Hoạt động nhận thức

– Tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức: tri giác, trí nhớ, chú ý,tư duy, tưởng tuợng.

– Phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập.

– Một số nhận xét còn cảm tính.

IV. Đặc điểm đời sống xúc cảm- tình cảm.

– Phong phú cả về nội dung và hình thức biểu hiện.

– Còn mang tính bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, dễ thay đổi, đôi khi còn mâu thuẫn.

V. Đặc điểm nhân cách

– Nội dung và mức độ tự nhận thức không diễn ra cùng lúc.

– Khả năng đồng nhất với giới tính.

– Bắt đầu có khả năng nhận xét, đánh giá về hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức nhưng còn chịu ảnh hưởng nhiều từ nhận xét của người khác.

CHƯƠNG 3:

TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THANH NIÊN HỌC SINH (HS TRUNG HỌC PHỔ THÔNG)

I/ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh THPT.

1/ Đặc điểm cơ thể:

– Cơ thể phát triển cân đối, khoẻ và đẹp.

– Đa số các em đã qua thời kỳ phát dục và đạt được những thành tích về cơ thể như người lớn.

2/ Điều kiện xã hội của sự phát triển:

– Hoạt động của thanh niên phong phú, phức tạp về nội dung và hình thức.

– Hứng thú mở rộng, quan hệ giao tiếp sâu rộng.

– Giữ vị trí như người lớn, có tính độc lập, tinh thần trách nhiệm hơn thiếu niên.

– Có vị trí bình đẳng trong gia đình.

II/ Họat động học tập-hướng nghiệp:

– Xu hướng nghề nghiệp là nét cấu tạo tâm lý mới trung tâm.

– Chi phối tới tình cảm , tự ý thức, năng lực và tính cách.

III/ Đặc điểm họat động nhận thức

– Tính suy luận, hệ thống, thực tiễn và chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức (tri giác, ghi nhớ, chú ý,…).

– Phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập.

– Một số nhận xét còn cảm tính.

IV/ Đặc điểm đời sống xúc cảm-tình cảm

1/ Xúc cảm:

– Có tính ổn định. Khả năng làm chủ tang.

2/ Tình cảm gia đình:

– Có trách nhiệm, yêu quý gia đình hơn à giao tiếp với các em theo nguyên tắc: tình thương, tôn trọng, trách nhiệm, thẳng thắn và thiện chí.

3/ Tình bạn:

– Có nhu cầu kết bạn tâm tình. Chủ động tìm hiểu và chọn bạn.

– Mang tính xúc cảm cao

4/ Tình yêu:

– Xuất hiện nhu cầu yêu đương. Hồn nhiên, thầm kín, dễ vỡ.

–> Không vẽ đường cho hươu chạy và cũng không làm ngư khi hươu đã muốn chạy hoặc đang chạy.

V/ Những đặc điểm nhân cách chủ yếu.

1/ Sự phát triển tự ý thức

– Có nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá, xây dựng hình ảnh bản thân

– Thông qua so sánh à Biết đánh giá mình trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách.

– Tuy nhiên, có lúc còn đánh giá chưa đúng do thiếu kinh nghiệm, kỹ năng phân tích.

2/ Xu hướng của nhân cách:

2.1. Nhu cầu:

– Nhu cầu được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân.

2.2. Sự hình thành thế giới quan

– Xây dựng quan điểm sống đã đi vào bản chất và mang tính hệ thống.

2.3. Lý tưởng sống:

– Đang trong quá trình quan tâm tìm kiếm và lựa chọn.

CHƯƠNG 4: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC

I/ HOẠT ĐỘNG DẠY

– Hoạt động dạy là hoạt động của thầy cô giáo tổ chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm giúp họ lĩnh hội nền VH-XH, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng.

– Phân biệt dạy và hoạt động dạy:

Dạy

Hoạt động dạy

Tính mục đích:– MĐ không định trước, chỉ xuất phát do một số tình huống bất ngờ thông qua đó, dạy một số điều trong cuộc sống. Kiến thức có được không phải là mục đích cuối cùng mà là hệ quả của quá trình song song diễn ra trong hoạt động khác.Nội dung:

– Kinh nghiệm sống

Phương thức:

– Diễn ra mọi lúc mọi nơi

– Không tuân theo phương pháp nào cả

– MĐ được xác định từ trước một cách rõ rang, nội dung được xây dựng và hoàn chỉnh

– Kiến thức khoa học, hệ thống

– Diễn ra theo phương thức nhà trường.

– Có phương pháp, phương tiện hỗ trợ.

Đặc điểm của họat động Dạy

Mục đích của hoạt động dạy: Giúp trẻ lĩnh hội nền VH-XH để tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách.

G chỉ tổ chức và điều khiển việc tái tạo lại nền VH-XH vào đầu đứa trẻ để tạo ra cái mới trong tâm lý trẻ chứ không có nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới hay tái tạo tri thức cho mình.

Con đường thực hiện: Tổ chức, điều khiển quá trình tái tạo năng lực loài người cho từng trẻ dựa trên cơ sở hoạt động tích cực của trẻ.

II/ HỌAT ĐỘNG HỌC

Họat động học là họat động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi,…một cách khoa học và hệ thống.

Phân biệt Học và Hoạt động học

Học một cách ngẫu nhiên

Hoạt động học

Tính mục đích:– MĐ không được định trước, chỉ xuất phát do một số tình huống ngẫu nhiên.Nội dung:

– Kiến thức rời rạc, ngẫu nhiên, đơn giản, không khái quát.

Phương pháp, phương tiện:

Ít cần

Chủ thể:

– Bất kỳ

Thời gian, không gian:

– Mọi nơi, mọi lúc.

Kết quả:

– Kinh nghiệm, giúp thích nghi.

– MĐ được xác định từ trước một cách rõ ràng.

– Kiến thức khoa học được kiểm chứng, khái quát, hệ thống.

– Cần

-Có danh xưng

– Có quy định.

– Hệ thống tri thức lý luận làm nền tảng tạo ra năng lực thực tiễn và sáng tạo.

– Đối tượng của họat động học: Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

– Mục đích sâu xa nhất của hoạt động học là làm thay đổi chính bản thân người học.

– Được điều khiển có ý thức

– Còn nhằm lĩnh hội phương pháp học

*HÌNH THÀNH HỌAT ĐỘNG HỌC 1. Hình thành động cơ học tập: Có hai lọai động cơ: Động cơ hòan thiện tri thức (động cơ bên trong): Động lực chính là tri thức, kỹ năng, kỹ xảoà tối ưu (theo quan điểm Sư phạm) Động cơ quan hệ xã hội (động cơ bên ngoài): học để phục vụ xã hội, học để hài lòng cha mẹ, học vì điểm số…

– Cả hai loại động cơ trên cùng diễn ra, làm thành một hệ thống.

– Động cơ học tập không có sẵn mà được hình thành trong quá trình học tập dưới sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan (nhu cầu, hứng thú, tình cảm, thái độ của người học) và nhiều yếu tố khách quan (cha mẹ, thầy giáo, bè bạn,…)

2. Hình thành mục đích học tập:

– Mục đích học tập được cụ thể hóa thành hệ thống các khái niệm của môn học.

3. Hình thành hành động học tập:

Hình thức tồn tại khái niệm:

Có 3 hình thức tồn tại khái niệm:

Hình thức vật chất: khái niệm được khách quan hóa ở vật thể, đồ vật. Hình thức “mã hóa”: khái niệm cư trú ở vật liệu khác: ký hiệu, mô hình, sơ đồ, lời nói. Hình thức tinh thần: cư trú ở trong tâm lý con người. Cấu trúc của quá trình hình thành khái niệm

– Bước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức ở H, kích thích hứng thú nhận thức của H, có thể đưa H vào tình huống có vấn đề về lý luận hoặc thực tiễn.

– Bước 2: Tổ chức cho H hành động để phát hiện những dấu hiệu, thuộc tính cũng như mối liên hệ giữa các dấu hiệu, thuộc tính đó của khái niệm. (tuỳ theo lứa tuổi mà tổ chức hành động như thế nào)

– Bước 3: Dẫn dắt H vạch ra được những nét bản chất của khái niệm.

– Bước 4: Giúp H đưa những dấu hiệu bản chất và logic của khái niệm vào định nghĩa (giúp H tự phát biểu định nghĩa qua các dấu hiệu bản chất và logic).

– Bước 5: Hệ thống hóa khái niệm (đưa khái niệm vừa hình thành vào hệ thống khái niệm đã học được trước đây để tạo tính liên tục, hệ thống cho bài học).

– Bước 6: Luyện tập vận dụng khái niệm vừa nắm được.

III/ DẠY HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ

Dạy học đi trước sự phát triển, hướng vào sự phát triển, đưa đến sự phát triển cao hơn (hướng vào vùng phát triển gần).

Các chỉ số phát triển trí tuệ nhận thức:

– Nhanh trí – tính định hướng, tốc độ định hướng của trí tuệ.

– Chóng hiểu chóng biết, tính khái quát.

– Tính tiết kiệm của tư duy tìm ra cách ngắn gọn nhất trong nhiều cách giải.

– Tính phê phán.

– Tính mềm dẻo: vận dụng trong những trường hợp có sự thay đổi.

– Tính sâu sắc trong việc hiểu vấn đề.

CHƯƠNG 5: TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

I/ ĐẠO ĐỨC VÀ HÀNH VI ĐẠO ĐỨC

– Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của xã hội.

– Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức.

Tiêu chuẩn đánh giá một hành vi đạo đức

Tính tự giác: Chủ thể thực hiện hành vi một cách có ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa và được thúc đẩy bởi động cơ chính bên trong nội tâm của mình (tự nguyện, sẵn lòng, vui lòng, mong muốn thực hiện chứ không bị cưỡng bức, áp chế)

Tính có ích: Hành vi đó phải mang lại lợi ích, ý nghĩa cho người khác, cho xã hội.

Tính không vụ lợi: Hành vi được thực hiện trước hết vì lợi ích của người khác, của xã hội (mình vì mọi người), không tính toán, không lấy lợi ích cá nhân làm trung tâm.

II/ CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA MỘT HÀNH VI ĐẠO ĐỨC

Tri thức đạo đức là những hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức quy định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội.

Niềm tin đạo đức là sự tin tưởng sâu sắc và vững chắc của con người về tính chính nghĩa và tính chân lý của các chuẩn mực đạo đức và thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các chuẩn mực ấy.

Động cơ đạo đức là động cơ bên trong, đã được con người ý thức, nó trở thành động lực chính làm cơ sở cho những hành động của con người trong mối quan hệ giữa người này với người khác và với xã hội

Tình cảm đạo đức là những thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi của người khác và với hành vi của chính mình trong quá trình quan hệ giữa cá nhân với người khác và với xã hội.

Ý chí đạo đức bao gồm:

+ Thiện chí đạo đức là mong muốn thực hiện một hành vi đạo đức, mong muốn thực hiện tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội, nhóm người.

+ Nghị lực là khả năng vượt qua khó khăn, kiểm soát bản thân để có thể phục tùng, thực hiện hành vi đạo đức.

Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định của con người, nó trở thành nhu cầu của con người, nếu được thỏa mãn thì thấy dễ chịu và ngược lại.

CHƯƠNG 6: TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH GIÁO VIÊN

I/ ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA NGHỀ DẠY HỌC

– Đối tượng lao động sư phạm là con người

– Công cụ của lao động sư phạm là nhân cách của người giáo viên.

– Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp

– Nghề mang tính khoa học, nghệ thuật, sáng tạo cao

+ Tính khoa học:

* Sự sắp xếp bài giảng theo trình tự logic

* Căn cứ vào quy luật lứa tuổi và nhân cách

* Tính chính xác, hiện đại của ND dạy học

+ Tính nghệ thuật

* Sự diễn đạt bằng lời nói, ngôn ngữ, ánh mắt, nụ cười.

* Ưng xử sư phạm, xử lý các tình huống sư phạm

* Giao tiếp sư phạm,

+ Tính sáng tạo: không lặp lại đối tượng, giáo án, phương pháp

II/ NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN

a) Phẩm chất

Thế giới quan khoa học, tình yêu nghề, yêu trẻ, lý tưởng nghề, các phẩm chất khác: long nhân đạo, sự công tâm, lòng tôn trọng, tính giản dị, tính khiêm tốn, tính mục đích, tính quyết đóan, tính kiên nhẫn, tính tự chủ, tự kiềm chế.

b) Năng lực

Nhóm năng lực dạy học:

– Năng lực hiểu học sinh

– Tri thức và tầm hiểu biết của giáo viên (Năng lực hiểu biết rộng)

– Năng lực chế biến tài liệu

– Năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học

– Năng lực ngôn ngữ

Nhóm năng lực giáo dục:

– Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh

– Năng lực giao tiếp sư phạm

– Năng lực đối xử khéo léo sư phạm: (nhanh trí, khéo léo, mang tính giáo dục) cư xử trong 1 tình huống cụ thể để đạt đến các yêu cầu: nghệ thuật, giáo dục

– Năng lực cảm hóa học sinh

Năng lực tổ chức các họat động sư phạm

III/ SỰ HÌNH THÀNH UY TÍN GIÁO VIÊN

– Uy tín là tài năng và tấm lòng của người giáo viên

– Có uy tín thực và uy tín giảhihi

Bình luận (0)
Đặng Thị Cẩm Tú
25 tháng 5 2016 lúc 12:55
Ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội phát triển mạnh mẽ để hội nhập khu vực và thế giới. Việc chuẩn bị chu đáo và kỹ lưỡng cho Năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013 với chủ đề "Văn minh sông Hồng" nhằm tạo thế liên kết, phát huy thế mạnh của du lịch khu vực với sự phong phú về tài nguyên tự nhiên và nhân văn.Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và những khó khăn kinh tế của đất nước, ngành du lịch Việt Nam vẫn đón được gần 3,36 triệu lượt du khách quốc tế (khoảng 52% kế hoạch) trong sáu tháng đầu năm, khách du lịch nội địa ước đạt 17,5 triệu lượt (gần 54,6% kế hoạch), thu nhập du lịch ước đạt 75 nghìn tỷ đồng (gần 50% kế hoạch). Tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong gần ba quý đầu năm đã đạt gần 4,4 triệu lượt khách, đưa du lịch trở thành điểm sáng của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Từ nay đến cuối năm, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam chắc chắn sẽ còn tăng mạnh.Ðể đạt được những thành công nhất định này, ngành du lịch hiểu rõ tầm quan trọng của sự chủ động và đón trước những biến đổi của các nhóm nhu cầu khách hàng cùng sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ. Chiến dịch quảng bá cho Năm du lịch quốc gia duyên hải các tỉnh Bắc Trung Bộ - Huế 2012 với chủ đề "Du lịch di sản" chính là bước đệm tiền đề để ngành du lịch nước ta tiếp tục chuẩn bị cho bước tiến tiếp theo trong năm 2013 với phương châm: liên kết ngành giữa các địa phương tạo nên sức mạnh tổng lực, trong đó khu vực tập trung chính là đồng bằng sông Hồng với chủ đề quảng bá "Văn minh sông Hồng". Tổng cục trưởng Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn cho biết: "Nền văn minh sông Hồng gắn với sản xuất lúa nước, gắn với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đa dạng và thật sự là giá trị cốt lõi kết nối các tỉnh trong khu vực. Văn minh sông Hồng hứa hẹn sẽ là chủ đề tạo ra một cảm hứng rất đặc biệt cho Năm du lịch quốc gia 2013".Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, tiến sĩ Hà Văn Siêu khẳng định: Vùng du lịch đồng bằng sông Hồng và duyên hải từ bao đời nay luôn là cái nôi đặc trưng về tài nguyên du lịch văn hóa sinh thái, tài nguyên tâm linh lịch sử.  Bởi lẽ đó, cần thiết quy hoạch vùng chính là để xác định mục tiêu phát triển, xác định những yếu tố tương đồng, đặc trưng để hợp sức cùng phát triển mở ra một tuyến du lịch liên kết, mới mẻ và hấp dẫn. Ba nội dung chính được đưa ra cho du lịch Việt Nam năm 2013 gắn với chủ đề "Văn minh sông Hồng" bao gồm: du lịch đô thị gắn với di sản văn hóa, đô thị cổ cùng các di sản văn hóa cổ; du lịch biển đảo - duyên hải đông bắc Hạ Long, Ðồ Sơn, Cát Bà... Xây dựng thương hiệu Hạ Long trở thành trung tâm thúc đẩy các thương hiệu khác đi lên; du lịch sinh thái nghỉ dưỡng gắn với thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên, các cảnh quan vùng ven sông Hồng, trong đó tối ưu hóa việc kết hợp với các hình thức giải trí hiện đại. Khu vực du lịch đồng bằng sông Hồng cần thiết phải có ba phân khu chức năng xoay quanh ba trung tâm lớn là: vùng Hà Nội, vùng duyên hải và vùng nam sông Hồng trải dài qua các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nam Ðịnh, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các sản phẩm du lịch chính sẽ được phân bố hợp lý theo từng địa phương sao cho hình thành cơ bản một tuyến liên kết du lịch vững chắc.Tiêu đề Năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013 đã cho thấy ý tưởng mong muốn tạo nên những đột phá mạnh mẽ từ chính những thế mạnh du lịch "đang ngủ quên" của khu vực châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Bắc Bộ. Trước tiên phải kể đến Hải Phòng, thành phố cảng và du lịch biển, một điểm trong tứ giác tăng trưởng kinh tế - du lịch: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình. Tuy nhiên, du lịch Hải Phòng đang gặp nhiều khó khăn về xây dựng sản phẩm du lịch và lại nằm cạnh một Quảng Ninh - Hạ Long, một điểm đến đang thu hút đông du khách với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch biển, đảo. Ðiều đó cũng tạo nên cảm giác du lịch Hải Phòng dường như đang bị hụt hơi trong những năm gần đây. Tại hội nghị Liên kết phát triển du lịch đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng vừa diễn ra, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng Ðoàn Duy Linh cũng khẳng định, du lịch Hải Phòng chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và bền vững, thương hiệu được quảng bá rộng rãi khi có sự liên kết với nhiều tỉnh, thành phố trong khu vực châu thổ sông Hồng. Ngành du lịch thành phố hy vọng với chương trình Năm du lịch quốc gia 2013, sự hợp tác, liên kết du lịch sẽ giúp thành phố hoa phượng đỏ nâng cao được vị thế, trở thành một trong những trung tâm, đầu mối trong trục "tứ hùng" của khu vực, với những điểm đến, những sản phẩm du lịch mới đầy hứa hẹn. Trình làng trong chuyến khảo sát liên kết du lịch khu vực đồng bằng sông Hồng tháng 10, Hải Phòng đã giới thiệu tuyến du lịch chính của năm 2013 nối kết Cát Bà - Ðồ Sơn và nội thành Hải Phòng. Trong đó, điểm nhấn chính là Cát Bà, một trung tâm du lịch biển, nghỉ dưỡng với nhiều danh thắng di tích hấp dẫn, đặc biệt là vịnh Lan Hạ với vẻ đẹp quyến rũ có tiềm năng liên kết tốt với Quảng Ninh và Vịnh Hạ Long.

Ngoài Hải Phòng, hai trung tâm du lịch Quảng Ninh và Ninh Bình vốn nổi danh trong nhiều năm qua cũng được lựa chọn như một động lực kích thích những liên kết vùng bên cạnh Thủ đô Hà Nội. Hai tỉnh trên có rất nhiều lợi thế nhưng cần loại bỏ triệt để những yếu kém tồn tại từ nhiều năm nay như nạn chèo kéo khách và vấn đề vệ sinh môi trường, v.v. Với du khách nước ngoài, đây là yếu tố góp phần quyết định về việc họ có chọn lựa điểm đến trong hành trình, nhất là với Vịnh Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thế giới và đã có một thương hiệu vững vàng nên càng cần chăm chút đầu tư vào dịch vụ phục vụ du khách...Sự mới mẻ mang tính nổi bật trong liên kết du lịch đồng bằng sông Hồng 2013 còn phải kể đến những cái tên như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Hà Nam, Thái Bình. Nếu như Vĩnh Phúc thuộc vùng chuyển tiếp từ miền trung du phía bắc xuống đồng bằng sông Hồng và mang nhiều đặc điểm văn hóa đặc sắc thì Nam Ðịnh lại là trung tâm của đồng bằng sông Hồng với những dòng sông đỏ nặng phù sa, những cánh đồng thẳng cánh cò bay và những bãi biển thoải dài cát mịn. Hưng Yên có Phố Hiến với danh ngôn "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến" và Hà Nam đang trở mình nhanh chóng với việc ra mắt khu du lịch Tam Chúc Ba Sao rất ấn tượng. Sự góp mặt của du lịch các tỉnh nêu trên trong tuyến liên kết du lịch đồng bằng sông Hồng và vùng duyên hải Bắc Bộ cho thấy sự quan tâm và quyết tâm thật sự xây dựng một ngành "công nghiệp không khói" phát triển bền vững. Tuy nhiên, một sự liên kết vững vàng đòi hỏi những nhân tố bên trong phải đảm nhận đủ và đúng vai trò nếu không muốn bị lu mờ. Và ngành du lịch Việt Nam hay chính những địa phương này cần tìm ra một phương án hợp lý để những thế mạnh của tài nguyên du lịch khu vực đồng bằng sông Hồng được phát huy một cách tổng thể, đưa năm 2013 trở thành năm du lịch quốc gia thành công bằng chính sức mạnh liên kết hoàn chỉnh.

 

Bình luận (0)
Phạm Sơn
25 tháng 5 2016 lúc 14:55

đài thế

Bình luận (0)
Đặng Thị Cẩm Tú
25 tháng 5 2016 lúc 17:15

ừ dài lém

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN