Bài 24 : Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945- 1946)

Lich su
1 tháng 9 2020 lúc 16:07

- Quân Anh và Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam sau năm 1945 vì: theo thỏa thuận của Hội nghị Pốtxđam (Đức, tổ chức từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945), việc giải giáp quân Nhật ở Đông Dương được giao cho quân Anh vào phía Nam vĩ tuyến 16 và quân đội Trung Hoa Dân quốc vào phía Bắc.

- Quân Pháp vào Việt Nam do được quân Anh tạo điều kiện để Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.

Bình luận (0)
My Trà
21 tháng 6 2020 lúc 22:21

- Thủ công nghiệp

+ Nhà nước thành lập các quan xưởng, tập trung thợ giỏi sản xuất : tiền, vũ khí, thuyền chiến

+ Các nghề thủ công cổ truyền như: đúc đồng, rèn sắt, làm gốm, dệt ngày càng phát triển, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao.

+ Các làng nghề thủ công ra đời: Thổ Hà, Bát Tràng, Nga Sơn,Chu Đậu...

+ Sản xuất được một số sản phẩm kĩ thuật cao: đại bác, thuyền chiến,...

- Thương nghiệp

+ Nội thương: Các chợ làng, chợ huyện, chợ chùa mọc lên ở khắp nơi. Kinh đô Thăng Long trở thành đô thị, trung tâm buôn bán và làm nghề truyền thống.

+ Ngoại thương: Khá phát triển, nhiều bến cảng được xây dựng, vùng biên giới Việt – Trung hình thành các địa điểm buôn bán.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
4 tháng 5 2020 lúc 17:37

Em ấn tương với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14 - 9 - 1946, tiếp tục nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam để có thời gian xây dựng và củng cố lực lượng, chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhất định sẽ bùng nổ.

=> Quyết định khôn ngoan, sáng suốt để cuối cùng là thắng lợi của CMT8 sau này

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
20 tháng 4 2020 lúc 19:21

Trong điều kiện lực l­ượng so sánh giữa ta và địch rất chênh lệch. Nhiệm vụ chiến lược trên giao cho quân và dân Thủ đô Hà Nội là phải giam chân địch trong thành phố càng dài ngày càng tốt, tạo điều kiện cho cả n­ước chuyển sang thời chiến; chiến đấu tiêu hao địch đi đôi với bảo tồn lực lư­ợng ta và bảo vệ nhân dân để kháng chiến lâu dài.

Tinh thần và quyết tâm diệt địch cộng với cách đánh cụ thể dần dần được xác định đúng đắn, là những yếu tố trực tiếp giúp quân và dân Thủ đô trưởng thành trong chiến đấu, cướp súng của địch trong từng trận để từng bước cải tiến trang bị của ta, không ngừng phát triển lực lượng và điều quan trọng nhất là cuối cùng đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ trên giao, cả về tiêu hao lực lượng địch và thời gian bám trụ dài ngày.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
20 tháng 4 2020 lúc 11:04

Câu 1: Vì sao Đảng, Chính phủ quyết định phát động toàn quốc kháng chiến?

Sau Cách mạng tháng 8, tình hình của đất nước ngay lúc này “ngàn cân treo sợ tóc”. Chúng ta phải đương đầu với nhiều khó khăn. Tiêu biểu như đói nghèo, mù chữ, giặc xâm lược… Vận mệnh dân tộc đứng trước tình thế nguy hiểm. Bắt buộc Trung ương Đảng phải đưa nước ta thoát khỏi tình thế này.

– Nguyên nhân thứ hai dẫn đến Đảng và Chính Phủ phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là do thực dân Pháp bội ước, bộc lộ dã tâm xâm chiếm nước ta thêm lần nữa. Chúng đánh trực tiếp vào các vùng Nam Bộ, Nam Trung Bộ và chiếm đóng một số tỉnh. Cụ thể như Lạng Sơn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hải Dương…

– Thực dân Pháp tiếp tục gây hỗn loạn, gây chiến ở nhiều nơi. Đỉnh điểm là vào ngày 15 và 16/12/1946 đã gây tàn sát ở các khu vực Hà Nội. Đó là phố Yên Ninh, cầu Long Biên, phố Hàng Bún…

– Ngày 18 và 19/12/1946, tướng Mooclie đã yêu cầu quân ta phải nhường chúng phá bỏ mọi chướng ngại vật trên đường phố. Đồng thời, giải tán các lực lượng chiến đấu.

– “Con giun xéo mãi cũng quằn”, trước sự áp bức này, Đảng và Chính phủ đã ra quyết định toàn dân kháng chiến.

– Ngày 19/12/1946, hội nghị bất thường TW đảng đã diễn ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên. Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp

– Bác đã gửi thư cho quần chúng nhân dân, thực dân Pháp và đồng minh. Chủ tịch đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng chống thực dân vào ngày 21/12/1946.

Bình luận (0)
Harry Potter
19 tháng 4 2020 lúc 11:06

Câu 2: Phân tích nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Pháp.

- Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện:

+ Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946).

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19/12/1946).

+ Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh (9/1947).

- Nội dung của đường lối kháng chiến là: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế.

+ Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta, từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Có lực lượng toàn dân, tham gia mới thực hiện được kháng chiến toàn diện và tự lực cánh sinh.

+ Kháng chiến toàn diện: do địch đánh ta toàn diện nên ta phải chống lại chúng toàn diện. Cuộc kháng chiến của ta bao gồm cuộc đấu tranh trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế… nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp. Đồng thời, ta vừa “kháng chiến” vừa “kiến quốc”, tức là xây dựng chế độ mới nên phải kháng chiến toàn diện.

+ Kháng chiến lâu dài: so sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch, địch mạnh hơn ta về nhiều mặt, ta chỉ hơn địch về tinh thần và có chính nghĩa. Do đó, phải có thời gian để chuyển hóa lực lượng làm cho địch yếu dần, phát triển lực lượng của ta, tiến lên đánh bạo kẻ thù.

+ Kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế: mặc dù ta rất coi trọng những thuận lợi và sự giúp đỡ của bên ngoài, nhưng bao giờ cũng theo đúng phương châm kháng chiến của ta là tự lực cánh sinh, vì bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải do sự nghiệp của bản thân quần chúng, sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ thêm vào.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
18 tháng 4 2020 lúc 21:01

Hồ Chủ Tịch đã ký với Xanhtơni (Sainteny), đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Sau Hiệp định sơ bộ, ta tiếp tục đấu tranh ngoại giao, đàm phán chính thức với Pháp tại Phôngtennơblô, nhưng do Pháp ngoan cố cuối cùng hội nghị thất bại. Để tiếp tục kéo dài thời gian hòa hoãn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện chính phủ Pháp bản Tạm ước 14-9-1946, nhân nhượng tham cho Pháp một số quyền lợi kinh tế –văn hóa ở Việt Nam. Tranh thủ thời gian hòa hoãn, chúng ta đã củng cố và xây dựng lực lượng về mọi mặt ( về chính trị, kinh tế, quân sự,…). Pháp cố ý gây chiến tranh (khiau khích, t ăng quân, đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng, gây xung đột ở Hà Nội), gửi tối hậu th- ngày 18-12-1946 đòi chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô Hà Nội cho chúng, thực chất là Pháp bắt ta đầu hàng.Ta không thể nhân nhượng được nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu (19-12-1946).

Bình luận (0)
Yến Nguyễn
Thiếu tá -
29 tháng 4 2020 lúc 16:50

Tình hình nước ta sau khi hiệp định sơ bộ được ký kết?

Quân Trung Hoa dân quốc rút, nhưng Pháp ở Nam Bộ vẫn tiến hành các hoạt động quân sự.

Trước tình hình trên, Đảng và Chính phủ đã làm gì?

Chủ trương và biện pháp của Đảng, Chính phủ ta đối với Pháp và Tưởng là hòa hoãn, nhân nhượng với quân Pháp để đuổi quân Tưởng và tay sai về nước.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
18 tháng 4 2020 lúc 15:16

Câu 4: Nội dung chủ yếu của Hiệp định sơ bộ?

Ngày 6/3/1946, Hiệp định Sơ bộ được kí kết với nội dung:

- Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp.

- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp ra Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm.

- Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột và giữ nguyên quân đội của mình ở vị trí cũ, tạo không khí thuận lợi cho cuộc đàm phán chính thức của Việt Nam, chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hóa của Người Pháp ở Việt Nam.

Bình luận (0)
Nguyễn Lê Diễm My
18 tháng 4 2020 lúc 16:21

Câu 2:

- Do chính quyền ta cò non trẻ nên tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù. Vì vậy, từ tháng 9-1945 đến trước tháng 3-1946, ta nhân nhượng với quân Tưởng để đánh thực dân Pháp.

- Sự nhân nhượng đó đúng vì: Với sách lược tạm hòa hoãn với quân Tưởng, chúng ta đã hạn chế đến mức thấp nhất mọi hoạt động phá hoại của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, góp phần làm ổn định mọi mặt ở miền Bắc, tạo điều kiện cho nhân dân ta có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Câu 6:

- Ý nghĩa:

+ Hiệp định giơ -ne-vơ cùng với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ở Việt Nam, Lào và Campuchia.

+ Hiệp định là văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương và được các nước tham dưh hội nghị cam kết tôn trọng.

+ Với hiệp định giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương, Pháp buộc phải rút hết quân đội về nước; Mỹ thất bại trong âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương; miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Bình luận (0)
Thảo Phương
Thiếu tướng -
18 tháng 4 2020 lúc 15:12

Câu 2: Vì sao Đảng ta lại hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng, sự hoà hoãn, nhân nhượng đó có đúng không?

Đảng ta chủ trương khi thì tạm thời nhân nhượng với quân Tưởng để chống Pháp, khi thì hoà hoãn với Pháp để đuổi quân Tưởng là đúng vì:

Từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 6-3-1946, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương tạm thời hòa hoãn với Trung Hoa Dân Quốc để đối phó với quân Pháp ở Nam Bộ. Sau ngày 6-3-1946, Đảng ta lại chủ trương hoà hoãn với Pháp để đuổi quân Trung Hoa Dân quốc về nước. Nguyên nhân Đảng ta đưa ra chủ trương trên là do chính quyền của ta còn non trẻ, không thể một lúc chống hai kẻ thù mạnh.

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN