Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình

Etermintrude💫
5 tháng 5 lúc 23:18

Gia đình ở nước ta được gầy dựng trên cơ sở các quan điểm của người Việt về hôn nhân và hạnh phúc, chẳng hạn các quan điểm sau hôn nhân như “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”, “Của chồng công vợ”, hay các quan điểm trước hôn nhân như “Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống”, “Môn đang hộ đối”... Nhân đây xin nói thêm rằng nhiều người thường nhầm “Môn đang hộ đối” thành “Môn đăng hộ đối”. Đang 當 chữ Hán còn có âm là Đương nghĩa là ngang nhau/bằng nhau, như tương đương… và chỉ có Môn Đang 門 當 - chứ không phải Môn Đăng - mới đi đôi với Hộ Đối 戶對, bởi trong Hán tự, chữ môn 門 được ghép từ hai chữ hộ 戶 đối nhau, và môn/ cái khung cửa có đang/ cân phân thì hai hộ/ cánh cửa mới có thể đối/ khép chặt được.

 
Quan điểm “môn đang hộ đối” đang có xu hướng thay đổi từ nhãn quan của hôn nhân sắp đặt đến nhãn quan hôn nhân tự chọn. 

Hôn nhân là đại sự của đời người nên phải cân nhắc lựa chọn thật kỹ là lẽ đương nhiên và quan điểm “môn đang hộ đối” trong hôn nhân của người Việt - sản phẩm của quá trình tiếp biến văn hóa Trung Hoa - là một cách lựa chọn phổ biến. Nói chung có hai kiểu hôn nhân: hôn nhân sắp đặt - “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và hôn nhân tự chọn của bản thân người trong cuộc. Thời xưa hôn nhân sắp đặt là chính, thời nay chủ yếu là hôn nhân tự chọn. Quan điểm “môn đang hộ đối” thường phù hợp với kiểu hôn nhân sắp đặt, bởi gia thế - bao gồm địa vị xã hội và điều kiện kinh tế - đang đối/ ngang nhau/ bằng nhau được xem là tiêu chí lựa chọn tối ưu và duy nhất của hai gia đình trước khi quyết định làm thông gia.

Thực ra lựa chọn để tiến đến hôn nhân theo quan điểm “môn đang hộ đối” cũng là nhằm thể hiện quan điểm “lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống”. Và đây cũng là tiền đề để nhiều gia đình người Việt có thể tạo nên bình đẳng trong cuộc sống vợ chồng theo quan điểm “thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn” hoặc “của chồng công vợ”. Chỗ bất cập của quan điểm “môn đang hộ đối” nói riêng và của kiểu hôn nhân sắp đặt nói chung là đã xem gia thế đang đối/ ngang nhau/ bằng nhau là tiêu chí lựa chọn tối ưu và duy nhất, bất kể hai người trong cuộc có yêu nhau hay không và quan trọng hơn là có sẵn lòng về chung một nhà hay không.

Ngay cả thời kỳ mà hôn nhân sắp đặt còn ngự trị thì không phải lúc nào quan điểm “môn đang hộ đối” cũng được người Việt đồng tình tuân thủ. Đọc truyện cổ dân gian chúng ta vẫn thấy có những cuộc hôn nhân hoàn toàn không “môn đang hộ đối”, chẳng hạn như cuộc hôn nhân giữa công chúa Tiên Dung cành vàng lá ngọc với anh dân chài Chử Đồng Tử khố rách áo ôm - đương nhiên do hôn nhân sắp đặt còn ngự trị nên cái giá mà Tiên Dung phải trả cho sự lựa chọn của mình rất lớn: không được vua cha chấp nhận, phải từ bỏ chốn cung đình và trở thành một… thường dân, thậm chí không thể tồn tại dài lâu trong cõi nhân gian bởi sau một đêm mọi thứ liên quan đến vợ chồng Tiên Dung chỉ còn lại cái đầm lớn trên mặt đất gọi là đầm Nhất Dạ.

Vấn đề cốt lõi nhất trong hôn nhân là hai người trong cuộc có yêu nhau hay không và quan trọng hơn là có sẵn lòng về chung một nhà hay không. Đương nhiên yêu cầu này không hề loại trừ kiểu hôn nhân sắp đặt và quan điểm “môn đang hộ đối”. Hạnh phúc của hai người trong cuộc - đang rất mực yêu nhau, người này thực sự cảm thấy người kia đúng là một nửa của mình và sẵn lòng về chung một nhà - sẽ tăng lên nhiều lần nếu được hai bên gia đình đồng tình sắp đặt vì cho rằng đấy là một cuộc hôn nhân “môn đang hộ đối”. Hạnh phúc của hai người trong cuộc cũng sẽ tăng lên trong trường hợp hai bên gia đình tuy không cho rằng đấy là một cuộc hôn nhân “môn đang hộ đối” nhưng vẫn đồng tình với sự lựa chọn của bản thân người trong cuộc…

Cũng có thể thấy ngày nay quan điểm “môn đang hộ đối” đang có xu hướng thay đổi từ nhãn quan của hôn nhân sắp đặt đến nhãn quan của hôn nhân tự chọn. Theo nhãn quan của hôn nhân sắp đặt, “môn đang hộ đối” không gì khác là sự tương đồng về gia thế mà chủ yếu là về địa vị xã hội và điều kiện kinh tế của hai thông gia. Còn theo nhãn quan của hôn nhân tự chọn thì “môn đang hộ đối” chủ yếu là hai người trong cuộc cùng nhau nhìn về một hướng, là sự tương đồng của chính hai người trong cuộc về nhân sinh quan, về nhận thức đối với tình yêu/ hạnh phúc/ hôn nhân/ gia đình và quan trọng hơn là về bình đẳng giới trên cơ sở thấu hiểu và tôn trọng nhau - khó có thể “thuận vợ thuận chồng” nếu hai người trong cuộc không thấu hiểu và thiếu tôn trọng nhau!    

Việc hai người trong cuộc không thấu hiểu, thiếu tôn trọng nhau, thiếu tương đồng về nhân sinh quan, về nhận thức đối với tình yêu/ hạnh phúc/ hôn nhân/ gia đình và về bình đẳng giới không chỉ là trở lực trong việc  tạo nên sức mạnh “thuận vợ thuận chồng” mà còn trở thành nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tình trạng bùng phát “ly hôn xanh” - thuật ngữ được dùng để chỉ những trường hợp ly hôn trong năm năm đầu chung sống, thậm chí sớm hơn. Sở dĩ phải gọi là bùng phát vì theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong vòng một thập niên tính từ đầu tháng 7 năm 2008 đến cuối tháng 7 năm 2018, tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 1.422.067 vụ án ly hôn, trong đó tỷ lệ “ly hôn xanh” ở giới trẻ là rất đáng báo động.

Cho nên nhìn “môn đang hộ đối” theo nhãn quan nào - của hôn nhân sắp đặt hay của hôn nhân tự chọn - thì yếu tố mà hai bên thông gia và hai người trong cuộc cần phải đang đối hơn cả là đẳng cấp văn hóa. Đẳng cấp văn hóa với những ứng xử phù hợp trong cuộc sống không hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế giàu/ nghèo, cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào địa vị xã hội sang/ hèn. Đẳng cấp văn hóa là sản phẩm của quá trình tự giáo dục đồng thời cũng phụ thuộc vào môi trường giáo dục, chẳng hạn như môi trường giáo dục gia đình. Và môi trường giáo dục gia đình cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế giàu/ nghèo và vào địa vị xã hội sang/ hèn, bởi một thường dân nghèo khổ vẫn có thể trở thành gương sáng về đối nhân xử thế cho con mình noi theo không khác gì một quan chức sang trọng hay một thương gia giàu có...

Tóm lại quan điểm “môn đang hộ đối” trong hôn nhân vẫn có thể đồng hành với cuộc sống đương đại của người Việt, nhưng rõ ràng quan điểm này phù hợp hơn với kiểu hôn nhân tự chọn và cần được các cặp đôi đang yêu nhau và và sẵn lòng về chung một nhà cùng nỗ lực để tạo nên sự đang đối cơ bản nhất - đang đối về đẳng cấp văn hóa - khi đứng trước ngưỡng cửa của hôn nhân.

Bình luận (0)
minh nguyet
9 tháng 4 lúc 15:42

Giữ khoảng cách khi gặp mặt, nói chuyện...

Hành động chừng mực, giữ ý

Cư xử lịch thiệp, nhẹ nhàng

...

Bình luận (0)

Em không đồn ý.Vì :chúng ta không nên "hiến dâng" hết cho tình yêu của bản thân mà cần chăm lo hơn vào việc học hành,nối đối phương thật lòng yêu bạn sẽ hiểu và cảm thông cho bạn. 

Bình luận (0)

# Chế độ hôn nhân thời nay:

 - Hôn nhân 1 vợ 1 chồng, vợ chồng bình đẳng.

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ dựa trên tình yêu chân chính:

+ Tự nguyện: Cá nhân tự do kết hôn theo luật định

+ Tiến bộ: bảo đảm về mặt pháp lí (có đăng kí kết hôn).

+ Được bảo đảm nguyên tắc tự do li hôn.

# Chế độ hôn nhân thời phong kiến:

- Nam năm thê bảy thiếp, nữ chỉ có một chồng.

- Hôn nhân do cha mẹ sắp đặt, tiêu chuẩn là sự môn đăng hộ đối.

- Trong nhà "chồng chúa vợ tôi" .

- Tảo hôn

_________________________________________________

Có gì không đúng nhắn mình nhé :))

Bình luận (0)

chụp ảnh đề gửi ra đc ko

Bình luận (0)

Hoạt động cơ bản của thầy và tròNội dung bài học

1. Khởi động

* Mục tiêu:

- HS tìm hiểu xem các em đã biết được gì về tình hôn nhân và gia đình

- Rèn luyện năng lực nhận thức cho HS

* Cách tiến hành:

- GV định hướng cho HS nghe bài hát “ Ba ngọn nến lung linh”

- GV nêu câu hỏi:

Bài hát này giúp ta hiểu được điều gì?

- 2 đến 3 HS trả lời

- Lớp nhận xét, bổ sung

* GV chốt: Gia đình là chốn để ta trở về sau những buổi làm việc vất vả,chia sẻ với nhau những niềm vui, nổi buồn .Vậy, mỗi chúng ta cần phải làm gì để xây dựng gia đình hạnh phúc.

2. Hoạt động hình thành kiến thức

Hoạt động 1: Thảo luận lớp tìm hiểu thế nào là hôn nhân

* Mục tiêu:

- Hiểu được thế nào là hôn nhân

- Rèn luyện năng lực nhận thức, giải quyết vấn đề.

* Cách tiến hành:

- GV chiếu tình huống lên bảng và lần lượt nêu câu hỏi.

- Tình huống: Anh Tuấn yêu chị Nga và được 2 bên gia đình đồng ý. 2 người đến UBND xã đăng kí kết hôn.

Hỏi:

? Mối quan hệ giữa anh Tuấn và chị Nga được gọi là gì?

? Vậy hôn nhân là gì?

- HSTL

- GV ghi ý kiến của HS lên bảng phụ

* Kết luận:

- Mối quan hệ giữa 2 người là mối quan hệ vợ chồng( hôn nhân)

- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn

Hoạt động 2: Đọc hợp tác để tìm hiểu nội dung chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay

* Mục tiêu:

- HS biết được các đặc trưng tốt đẹp, tiến bộ của chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay.

- Rèn luyện năng lực tự học, năng lực nhận thức.

* Cách tiến hành:

- GV yêu cầu HS tự đọc điểm b, mục 2: chế độ hôn nhân của nước ta hiện nay, ghi tóm tắt nội dung cơ bản.

- HS tự đọc nội dung trong SGK, tìm nội dung chính, tóm tắt phần vừa đọc

- GV giới thiệu với HS điều 8: điều kiện kết hôn của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

* GV chính xác hóa và chốt lại nội dung chính.

Hoạt động 3: Đàm thoại tìm hiểu khái niệm gia đình

* Mục tiêu:

- HS nêu được khái niệm gia đình

- Rèn luyện năng lực tự nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề.

* Cách tiến hành:

- GV đặt câu hỏi cho HS

1. Gia đình em gồm mấy thành viên, đó là những thành viên nào?

2. Mối quan hệ giữa bố và mẹ là mối quan hệ gì?

3. Mối quan hệ giữa bố mẹ và con là mối quan hệ gì?

- GV tổ chức cho HS thảo luận

- HS thảo luận( một số hs nêu ý kiến với mỗi câu hỏi )

- GV ghi tóm tắt ý kiến của HS lên bảng phụ

- Lớp thống nhất đáp án

* Kết luận:

GV chính xác hóa đáp án của hs và kết luận

Hoạt động 4: Đàm thoại để tìm hiểu các chức năng của gia đình

* Mục tiêu:

- Hs hiểu được các chức năng của gia đình

- Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề

* Cách tiến hành:

- GV đặt câu hỏi cho HS:

Câu 1. Gia đình có những chức năng cơ bản nào?

Câu 2. Để góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, em có thể làm gì?

- HS phản hồi ý kiến

- GV ghi tóm tắt ý kiến của HS lên bảng phụ

* Kết luận:

Câu 1. Gia đình có 4 chức năng cơ bản

Câu 2. Bản thân em cần học tập tốt, biết vâng lời cha mẹ, ông bà….

 

 

 

 

 

 

2. Hôn nhân

a, Hôn nhân là gì?

 

 

Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b. Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay.

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

- Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

 

 

 

 

 

 

3. Gia đình, chức năng của gia đình, các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên

a, Gia đình là gì?

 

 

 

Gia đình là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau bởi 2 mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống

 

b, Chức năng của gia đình

- Chức năng duy trì nòi giống

- Chức năng kinh tế

- Chức năng tổ chức đời sống gia đình

- Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái

Bình luận (4)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN