Hướng dẫn soạn bài Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - Hồ Chí Minh

I. Phần một tác giả

1. Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc đồng thời là một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào quốc tế cộng sản, Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn.

2. Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Hồ Chí Minh quan niệm văn học là vũ khí sắc bén phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn cũng là chiến sĩ. Người chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. Khi cầm bút Người xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức tác phẩm.

3. Sự nghiệp văn chương của Người bao gồm: Văn chính luận, Truyện và kí, Thơ ca. Mỗi bộ phận đều có những tác phẩm đặc sắc về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. 

* Văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu nhằm mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng qua những chẳng đường lịch sử. Các tác phẩm tiêu biểu:

- Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trực diện tội ác của thực dân Pháp gây nỗi thống khổ cho nhân dân bản xứ bằng những cứ liệu chân thực, phong phú, thái độ, tình cảm sâu sắc, mãnh liệt và nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo.

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá, một áng văn chính luận mẫu mực đặc sắc.

* Truyện và kí chủ yếu được viết khi Người hoạt động ở Pháp với tên gọi Nguyễn Ái Quốc. Những tác phẩm này tập trung tố cáo tội ác dã man, bản chất xảo trá của bọn thực dân, phong kiến, đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng bằng nghệ thuật văn xuôi tài năng, giàu trí tuệ và chất hiện đại. Những tác phẩm tiêu biểu như Vi hành, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Những trò lố hay Va-ren và Phan Bội Châu…

* Thơ ca chiếm số lượng lớn trong sáng tác văn chương của Người:

- Tập Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) viết bằng chữ Hán trong thời gian Hồ Chí Minh bị giam cầm tại nhà tù Quốc dân Đảng, ở Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 29-8-1942 đến 10-9-1943. Tập thơ ghi lại một cách chân thực bộ mặt nhem nhuốc, đen tối của chế độ nhà tù cũng như xã hội Trung Quốc Tưởng Giới Thạch. Tác phẩm còn là bấc chân dung tự họa con người tinh thần của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Tập thơ chứa chan tinh thần nhân đạo, giàu giá trị nghệ thuật.

- Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài thơ trữ tình thể hiện lòng yêu nước, tâm hồn tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên và con người (Rằm tháng giêng, Tin thắng trận, Cảnh khuya…); nhiều bài thơ mộc mạc, giản dị để tuyên truyền vận động cách mạng (Bài ca du kích, Ca sợi chỉ…).

4. Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo mà đa dạng. Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lĩ lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục và đa dạng về bút pháp. Truyện và kí của Người rất hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Thơ ca tuyên truyền cách mạng gần gũi với ca dao, giản dị và dễ nhớ. Nhưng thơ chữ Hán của Người  lại hàm súc, hài hòa giữa màu sắc cổ điện và tinh thần hiện đại.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

- Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, nhân dân cả nước nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 26-8-1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, người soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Ngày 2-9-1945, tại Quảng Trường Ba Đình Hà Nội, người thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập trước hàng vạn đồng bào.

- Thời điểm Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tình hình chính trị vẫn còn phức tạp: Ở phía Nam, thực dân Pháp núp sau quân đội Anh (vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, ở phía Bắc, bọn Tàu – Tưởng, tai sai của đế quốc Mĩ đã chực sẵn ở biên giới để đổ bộ vào nước ta.

Lúc đó, thực dân Pháp tung ta trong dư luận quốc tế những lập luận điệu xâm lược rằng: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp đã công khai hóa, nay Nhật đầu hàng Đồng Minh thì Đông Minh thì Đông Dương đương nhiên là thuộc quyền của Pháp.

Nắm chắc tình hình đó Người đã đưa vào bản Tuyên ngôn những luận điểm chỉ trích, bác bỏ âm mưu của bọn xâm lược.

2. Tuyên ngôn Độc lập được viết bằng văn chính luận. Thế mạnh của loại văn này ở lí lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ, bằng chứng hùng hồn. Nhiệt tình của tác giả thể hiện ở chỗ mài sắc lí lẽ.

3. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào, trước thế giới mà còn hướng vào bọn đế quốc thực dân đang âm mưu xâm lược nước ta.

- Mục đích hướng tới của Tuyên ngôn Độc lập là để tuyên bố độc độc lập của dân tộc, quyền được hưởng tự do của nhân dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới đồng thời còn ngầm tranh luận để bác bỏ luận điệu xâm lược của kẻ thù.

4. Giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sự vô giá: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc, kỉ nguyên của độc lập tự do.

- Tuyên ngôn Độc lập còn là áng văn chính luận mẫu mực, mang tính chiến đấu mạnh mẽ và sức thuyết phục cao, thấm nhuần tinh thần yêu nước nồng nàn và niềm tự hào dân tộc mãng liệt.

II. Hướng dẫn học bài

1. Tìm hiểu lập luận của bản Tuyên ngôn Độc lập (dựa vào bố cục và nội dung lí lẽ của từng phần).

- Đoạn 1: Từ đầu đến “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”: Hồ Chí Minh nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bản “tuyên ngôn độc lập”.

- Đoạn 2: Tiếp đó đến “chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng”: Hồ Chí Minh kể tội ác của thực dân Pháp nhằm bác bỏ sự kể công khai hóa, bảo hộ của chúng đối với nước ta.

- Đoạn 3: Tiếp đó cho đến “Dân tộc đó phải được độc lập”: Hồ Chí Minh khẳng định Đông Dương đã trở thành thuộc địa của Nhật và nhân dân ta đã đứng lên giành quyền độc lập ngay từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp nhằm bác bỏ luận điệu muốn lấy Đông Duowngg của Pháp.

- Đoạn 4: Còn lại. Lời tuyên bố độc lập và ý thức quyết tâm giữ vững nền độc lập ấy.

2. Phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh hết sức độc đáo:

Hồ Chí Minh trích dẫn hai đoạn văn tiêu biểu trong “Tuyên ngôn Độc lập” của nước Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của các mạng Pháp. Những lời tuyên bố đó đều có nội dung xoay quanh việc khẳng định quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do, bình đẳng của con người và các dân tộc.

- Nguyên lí độc lập ấy sẽ là cơ sở pháp lí để Bác dẫn đến lời tuyên bố độc lập cho dân mình, nước mình. Đó còn là cơ sở để Người suy rộng  ra mà đòi quyền  tự do cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ý kiến suy rộng ra ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, là khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa.

- Ý nghĩa và hiệu quả nghệ thuật của cách mạng mở đầu độc đáo ấy là:

+ Trước hết, nó làm tăng sức thuyết phục cho lời tuyên ngôn độc lập.

+ Nó còn thể hiện sự khôn khéo, quyết liệt trong cách chiến đấu với kẻ thù. Cách dùng thủ thuật gậy ông đập lưng ông đó là nghệ thuật, nhưng đó là nghệ thuật bậc thầy bởi vì Hồ Chí Minh đã dùng chính lí lẽ chính nghĩa của “Ông” Pháp và “Ông” Mĩ để “đập” lại hành động phi nghĩa của họ.

3. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã lật tẩy bộ mặt tàn bạo, xảo quyệt của thực dân Pháp đối với nhân dân ta bằng lí lẽ và sự thật hùng hồn, không thể chối cãi được. (Phân tích đoạn 2 và đoạn 3).

- Thực dân Pháp đã kể công “khai hóa” thì bản Tuyên ngôn Độc lập kể tội ác “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” của chúng.

+ Dẫn chứng chọn lọc cụ thể, xác đáng, toàn diện ra tội ác dã man, tàn bạo của thực dân Pháp về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế.

+ Lời văn ngắn gọn, hùng hồn chứa đựng nội dung kể tội ác đanh thép, sử dụng nhiều cách nói tu từ tăng sức truyền cảm (so sánh, cường điệu, dùng đồng nghĩa kép để khắc sâu hình ảnh đất nước “xơ xác, tiêu điều”, nhân dân “nghèn nàn, thiếu thốn”…)

+ Điệp từ “chúng” đứng đầu hàng loạt tội ác, theo sự chất chồng tội ác là sự chất chứa căm thù đối với thực dân cướp nước. Hành động của chúng là “trái hẳn với đạo lí và chính nghĩa”.

- Thực dân Pháp kể công “bảo hộ” thì bản Tuyên ngôn Độc lập lên án “trong năm năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Dẫn chứng là những bằng chứng lịch sử khiến kẻ thù không thể chối cãi.

+ Mùa thu 1940, Nhật xâm lượt Đông Dương thì Pháp đã “quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”. Cách dùng từ pha chút hài hước, mỉa mai của Bác đã vạch trần bản chất hèn nhát, vô trách nhiệm của thực dân Pháp đối với đất nước ta. Chính sự thỏa hiệp của chúng đã khiến nhân dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích.

+ Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi Nhật đảo chính, thực dân Pháp bỏ chạy, hoặc đầu hàng để nước ta rơi vào tay Nhật.

+ Chúng không đứng về phía nhân dân ta để chống Nhật mà còn “thẳng tay khủng bố Việt Minh”, khi bỏ chạy còn nhẫn tâm giết số đông tù chính trị.

Hành động của chúng thật vô nhân đạo, làm sao chúng dám đối diện với nhân dân ta để tự xưng là người “bảo hộ” chúng ta.

- Chúng tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định Đông Dương đã trở thành thuộc địa của Nhật. Nhân dân ta đứng lên giành lại chính quyền độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Sức mạnh của sự thật và không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn lí lẽ của sự thật. Hồ Chí Minh đã láy đi, láy lại hai chữ sự thật để tăng chính xác thực của lí lẽ và dẫn chứng.

4. Ý nghĩa lịch sự trọng đại của bản Tuyên ngôn Độc lập thể hiện qua đoạn văn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.

Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độquân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

- Một đoạn văn ngắn nhưng đã nêu bật được những sự kiện lịch sự trọng đại:

+ Chấm dứt xiềng xích thực dân, phong kiến (mà nhân dân phải bị trói buộn trong một khoảng thời gian dài “100 năm”, “mấy mươi thế kỉ”).

+ Một kỉ nguyên độc lập, tự do đã mở ra, nhân dân được làm chủ đất nước của mình (phá bỏ chế độ “quân chủ” lập nên chế độ “dân chủ”).

- Giọng văn sảng khoái, tự hào (câu văn “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn gọn mà liệt kê đầy đủ, thành quả của cách mạng tháng Tám; điệp ngữ “Dân ta đã…”, “Dân ta lại…” chứa đựng niềm tự hào về nhân dân anh hùng).

5. Bản Tuyên ngôn Độc lập tiêu biểu cho khát vọng độc lập, tự do và ý chí quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.

Điều đó được thể hiện qua:

- Đoạn văn khẳng định tinh thần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc trong bao nhiêu năm “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Biện pháp điệp ngữ, lặp cú pháp, đã làm cho lời tuyên bố trở nên hùng hồn, hào sảng.

- Lời trịnh trọng tuyên bố độc lập: “Nước Việt Namm có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.” Hồ Chí Minh đã nói thay nhân dân niềm sung sướng được làm chủ đất nước, được sống trong tự do. Độc lập, tự do không còn là mơ ước, là đòi hỏi nữa mà đã trở thành sự thật.

- Khẳng định quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập, tự do ấy “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cỉa để giữ vừng quyền tự do, độc lập ấy.” Quyết tâm này của cả dân tộc đã được trả lời bằng hai cuộc kháng chiến hào hùng chống Pháp và Mĩ sau đó. Đó cũng là sự tiếp nối truyền thống bất khuất, kiên cường không để cho kẻ thù nào xâm phạm đất nước từng được thể hiện trong bài Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt.

Hỏi đáp

Hỏi đáp, trao đổi bài Gửi câu hỏi cho chủ đề này
Luyện trắc nghiệm Trao đổi bài

Tài trợ


Tính năng này đang được xây dựng...