CÁC BÀI VĂN MẪU - Văn lớp 11

MỤC LỤC

Đề bài:Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử

Đề bài:Phân tích bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài “Tống biệt hành’ của Thâm Tâm

Đề bài:Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn

Đề bài:Bức tranh phố huyện nghèo qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Đề bài:Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Đề bài:Nghị luận xã hội về lòng tự trọng

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

Đề bài:Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong Vội vàng của Xuân Diệu

Đề bài:Phân tích nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

Đề bài:Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thơ duyên” của Xuân Diệu

Đề bài:Phân tích truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao

Đề bài:Nghị luận về giờ Trái Đất

Đề bài : So sánh tài sắc của chị em Thúy Kiều trong đoạn trích chị em Thúy Kiều

Đề bài: Phân tích cái tôi trữ tình của tác giả trong bài thơ Tràng giang

Đề bài:Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử 

Đề bài:Phân tích bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mạc Tử 

Đề bài: Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến

Đề bài:Phân tích bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Đề bài:Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Bài làm:Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù 

Đề bài:Bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu

Đề bài:Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Đề bài : Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát với thi pháp văn học trung đại qua “Bài ca ngất ngưởng” và “Dương Phụ Hành”

Đề bài:Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử 

Bài làm

Hàn Mạc Tử là thi sĩ với phong cách sang tác riêng và “lạ” trong phong trào Thơ mới. Thơ ông luôn bộc lộ nỗi niềm da diết với đời, với người nhưng nhận lại là sự thờ ơ và lãnh đạm. Đọc thơ Hàn Mạc Tử, chúng ta nhận ra cái tôi hơi hướng “điên” với những vần thơ “suýt” vượt ra khỏi “mảnh đất hiện thực”. Nhưng đối lập với những hình ảnh “điên” đó là những hình ảnh thơ rất đẹp và thi vị. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một ví dụ tiêu biểu. Bức tranh thiên nhiên xứ Huế hiện lên nên thơ và tươi đẹp qua những nét vẽ tài hoa của tác giả.

“Đây thôn Vĩ Dạ” thực ra là lời đáp của nhà thơ dành cho một cô gái ở thôn Vĩ Dạ khi cô gái ấy trách sao lâu rồi không ghé về chơi. Tứ thơ được viết ra từ mạch cảm xúc chân thành và mãnh liệt đó.

Huế luôn là mảnh đất gợi nhớ, gợi thương đối với những ai đã từng đặt chân qua đây. Bởi nó có một nét đẹp vừa tươi mới, vừa cổ kính, vừa gần gũi. Thiên nhiên trong bài thơ chính là chất liệu để làm tôn thêm hình ảnh con người nơi xứ Huế. 

Câu thơ đầu có thể nói là câu thơ phác họa một cách rõ nét nhất bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và đầy lôi cuốn của mảnh đất kinh đô này:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Khổ thơ được cất lên bằng tiếng trách hờ của cô gái đối với nhân vật trữ tình. Một câu trách nhẹ nhàng, nhưng tình cảm và đầy sự tinh tế. Dù có trách thì người khác cũng không nỡ lòng nào để giận để hờn. Và đằng sau câu trách ấy là một bức tranh thiên nhiên thơ mộng được vẽ ra. Có thể nói tác giả đã không còn đơn thuần dùng chất liệu ngôn ngữ để vẽ tranh nữa mà đã dùng cả sự rung động trong trái tim để vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp đó.

Thiên nhiên cứ thế sang rực lên, tươi tắn và khỏe khắn. Cách dùng từ “nắng mới lên” gợi cho người đọc liên tưởng đến nắng đầu ngày, nắng bình minh khoan thai, dễ chịu và nhẹ nhàng. Nắng mới lên đậu trên hàng cau xanh vút khiến người đọc mường tượng đến một khung cảnh tSahanh mát và trong lành.

Ở câu thơ thứ ba, tác giả dùng đại từ phiếm chỉ “vườn ai” như để hỏi người nhưng cũng là tự hỏi mình. “Vườn ai” vừa bộc lộ sự kín đáo, e dè, vừa thê hiện sự tinh tế và sâu sắc của nhà thơ. “Vườn ai” thì chính trong trái tin của nhân vật trữ tình đã hiểu quá rõ, quá sâu sắc rồi. Màu xanh của khu vườn là một màu xanh rất đặc biệt và lạ kì. “Xanh như ngọc” chính là màu xanh vừa trong lành vừa tinh khôi. Từ “mướt” như làm sang bừng lên cả câu thơ, tạo sự mềm mại và uyển chuyển cho khu vườn buổi sang mai.

Một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ và tươi đẹp biết bao nhiêu.

Sang đến câu thơ thứ hai thì thiên nhiên từ tươi tắn chuyển sang buồn bã và vương sự chia li.

Gió theo lối gió mây đường mây

DÒng nước buồn thiu hoa bắp lay

Gió mây xưa nay vốn đi chung đường nhưng trong thơ của Hàn Mạc Tử lại là chia đôi thành hai đường xa lạ. Từ “buồn thiu” như diễn tả được tâm trạng của thiên nhiên, một sự não nề và thê lương.

Đoạn cuối có thể xem là đoạn thiên nhiên thôn Vi trở nên huyền ảo và mơ hồ hơn. Có thể nói đó chính là sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc của Hàn Mạc Tử.

Với những nét vẽ đơn giản, nhẹ nhàng nhưng tinh tế và sâu sắc, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên trước mắt người xem một bức tranh thiên nhiên xứ huế vừa tươi mới, vừa thơ mộng, vừa u sầu. Có lẽ đó chính là nét đặc trưng của Huế. 

Đề bài:Phân tích bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin

Bài làm

Tình yêu luôn là đề tài bất diệt đối với thi ca. Mỗi thi sĩ đều có một cái nhìn riêng, đặc biệt về những cung bậc khi yêu. Chúng ta biết đến Xuân Diệu là “ông hoàng thơ tình” với những vần thơ nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt. Đối với nền văn học Nga thì Puskin được xem là “mặt trời thi ca Nga” với những áng thơ bất hủ về tình yêu. Bài thơ “Tôi yêu em” là một điệp khúc tình yêu với những cung bậc thương nhớ da diết khi yêu. Một bài thơ tình gieo vào lòng người nhiều thổn thức, nhiều mong nhớ và nhiều nuối tiếc cho câu chuyện tình đơn phương của tác giả.

Có thể nói “Tôi yêu em” là lời giãi bày tình cảm một cách chân thành và mãnh liệt nhất, đó là tiếng nói con tim, tiếng gọi của những rung động tha thiết và sâu sắc nhất.

Bài thơ với câu chữ bình dị, gần gũi mà len sâu vào trái tim người đọc những xốn xang và dư âm còn mãi.

Tôi yêu em đến nay chừng có thể

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai

Một câu thơ cất lên bình dị, chân thành như chính tấm lòng và trái tim của tác giả dành cho người mình yêu thương. Lời thơ chậm rãi, đều đều như có chút gì đó ngượng ngùng, chưa mang ý nghĩa khẳng định. Nhưng từ ngữ “chừng có thể”, “chưa hăn” dường như còn vương chút gì đó chưa dứt khoát. Có lẽ bởi tác giả sợ lời tỏ tình của mình suồng sã quá khiến cho người ta sợ. Tuy nhiên dù chưa dứt khoát nhưng cũng đã phần nào bộc lộ được tình yêu say mê đã từ lâu lắm rồi, đó là một quá trình yêu và thương có thời gian chứ không hề bồng bột.

Tuy nhiên đến hai câu thơ sau, giọng thơ đột nhiên thay đổi:

Nhưng không để em bân lòng thêm nữa

Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Mặc dù tinh cảm trong trái tim “tôi” đã rõ nhưng nhân vật trữ tình lại không muốn làm khó đối phương, không muốn để cho đối phương phải khó xử. Đó cũng chính là một trái tim đầy lí trí. Hai câu thơ đầu và hai câu thơ sau được ngắt ra bởi từ ‘nhưng” vừa có vẻ vô tình nhưng lại phần nào thể hiện sự dứt khoát hơn hết. Nhân vật “tôi” tự ý thức được bản thân mình, dù có chịu ấm ức cũng chịu “không để em phải bận lòng thêm nữa”.  Tuy nhiên lúc này nhân vật trữ tình đang trăn trở và thấy chua xót, không biết rằng tâm trạng của người kia như thế nào. Một trái tim đa sầu đa cảm nhưng là một trái tim biết nghĩ cho người khác. Trái tim ấy thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao nhiêu. Cảm xúc ở những câu thơ đầu bị dồn nén, không được thoát ra bên ngoài mà trở nên bức bối hơn.

Ở 4 câu thơ sau bỗng nhiên cảm xúc vỡ òa, tràn ra. Có lẽ cam xúc trong tình yêu không còn giữ kín, không còn bó buộc trong trái tim chật chội nữa. Đã đến lúc nó bật tung ra. Và cụm từ “tôi yêu em” lại được điệp lại một lần nữa càng khẳng định hơn nữa tình yêu mà chàng trai dành cho cô gái:

Tôi yêu em âm thầm không hi vong

Lúc rụt rè khi hầm hực lòng ghen

Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

Vẫn là tình yêu ấy nhưng giờ nó dược tràn ra, nhân vật “tôi” đã giãi bày thành lời. Rằng tình yêu này “thầm lặng”, “không hi vọng” nhưng đó là tình yêu “chân thành”, “đằm thắm”.NHịp thơ trở nên nhanh và dồn dập hơn, tình yêu cũng trở nên cồn cào và da diết hơn.

Câu thơ cuối được coi là “điểm nhãn” của cả bài thơ, cũng như là “điểm nhãn” trong trái tim của nhân vật “tôi”. Một cách nói vừa thể hiện sự vị tha khi yêu vừa thể hiện sự thông minh và khéo léo trong cách thổ lộ tình cảm. Ý thơ “cầu em được người tình như tôi đã yêu em”. Thật sâu sắc. Phải chăng nhân vật trữ tình đang tự khẳng định lại tình yêu của mình dành cho “em” là quá lớn và quá chân thành.

Dù tình yêu “âm thầm” không được đền đáp nhưng nhân vật trữ tình vẫn yêu chân thành và yêu tha thiết. Không đòi hỏi điều gì, không hi vọng bất cứ một điều gì. Một thứ tình yêu cao cả và vĩ đại. Tuy nhiên trong tình yêu vẫn luôn có những cung bậc, lúc dịu dàng, đằm thắm, lúc ghen tuông, lúc hờn dỗi. Đó như những nốt trầm bổng tạo nên một bản hợp xướng tuyệt vời trong tình yêu, hay nói cách khác đó chính là gia vị khi yêu không thể thiếu được.

Puskin với một trái tim sống và yêu hết mình đã viết lên những vần thơ vừa bình dị, gần gũi, vừa đằm thắm mượt mà. Những vần thơ chạm đến trái tim của người đọc một cách dữ dội như vậy.

“Tôi yêu em” là một bài thơ tình bất hủ, với đầy đủ cung bậc khi yêu đã khiến người nghe có những cảm nhận thật tinh tế và sâu sắc nhất.

 

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài “Tống biệt hành’ của Thâm Tâm

 

Bài làm

Thâm Tâm là nhà thơ sáng tác chỉ tầm 20 bài thơ nhưng phong cách của ông được xem là “độc” và “lạ” trên thi đàn. Chỉ với bài thơ “Tống biệt hành”, tên tuổi của Thâm Tâm đã thực sự được nhiều người biết đến. Một bài thơ viết theo thể hành toát lên không gian của một cuộc chia li, tâm trạng, cảm xúc của người ra đi và người ở lại. Khổ thơ đầu tiên có thể nói là khổ thơ để lại trong lòng người đọc nhiều dư âm nhất.

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

Một khổ thơ chỉ có 4 câu với những nét vẽ tinh tế và tài hoa, mang hơi hướng của thơ Đường đã thực sự chinh phục được trái tim khó tính của độc giả. Những hình ảnh thơ, câu chữ và cả cảm xúc dường như đều vương một chút của thơ cổ Trung Quốc. Có lẽ đây là sự ảnh hưởng trong phong cách sáng tác của ông khi tiếp cận với những đề tài như thế này.

Bốn câu thơ đầu diễn tả tâm trạng lưu luyến, bịn rịn, đầy nhớ thương của người ra đi và kẻ ở lại. Những dòng cảm xúc của tác giả khiến cho chúng ta liên tưởng đến cuộc chia li của nhiều người có chí lớn, vì một mục đích nào đó mà phải “dứt áo ra đi”, thực hiện lí tưởng và khát vọng của mình. Cũng có thể đó là những người bạn tri âm, tri kỉ vì cuộc sống mà buộc phải nói lời từ biệt. Trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều cuộc chia li khiến cho người đọc xúc động và ngưỡng mộ như cuộc chia li tại Hoàng Hạc Lâu của hai vị thi sĩ…Dù là cuộc chia li nào thì Thâm Tâm cũng dồn hết tâm và lực mình để viết ra.

Hai câu thơ đầu gợi nên không gian diễn ra buổi chia li:

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Đây chính là tâm trạng của người ở lại, tiễn đưa một người. Ở đây người ở lại đã giãi bày “đưa người ta không đưa qua sông”, có lẽ là tiễn đưa ở một nơi khác. Nhưng chính cảm xúc trong lòng người ở lại dường như lại nghẹn ngào, như dâng trào “sóng”. Câu hỏi tu từ “sao có tiếng sóng ở trong lòng” dường như là một câu hỏi để khẳng định cho cảm xúc của người ở lại lúc đó.

Câu thơ đầu tiên cất lên với vần bằng, nhịp thơ chậm, đều đều góp phần diễn tả cảm xúc đang tràn đầy, không thể nhiều hơn được nữa. Chính nhà thơ, hay chính người ở lại đang tự cảm thấy sóng đang cuộn trào ở trong lòng, dữ dội và mãnh liệt hơn.

Đọc những câu thơ đầu tiên, chúng ta cảm nhận được tính chất cổ điển của thơ Đường, bởi thơ cổ thường mượn hình ảnh để nói lên tâm trạng. Ở đây Thâm Tâm cũng đã mượn “tiếng sóng” ở trong lòng để nói lên dòng cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến khi phải tiễn đưa một người ra đi, một người không biết bao giờ mới gặp lại.

Tiếp nối với mạch cảm xúc ở hai câu thơ đầu, hai câu thơ tiếp theo dường như cứa sâu vào lòng người đọc tâm sự lắng sâu hơn:

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mặt trong.

Vẫn là cách đặt câu hỏi tư từ mang ý nghĩa khẳng định, Thâm Tâm đã thật tài tình và tinh tế khi diễn tả cảm xúc và nỗi nhớ

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Điệp từ “không” được nhắc lại hai lần ở trong một câu thơ như vừa phủ định, vừa khẳng định rằng “bóng chiều” không hề “thắm” và “vàng”. Sự khẳng định này dẫn đến tâm trạng chồng chất, ngổn ngang trong câu thơ tiếp theo. Ở đây tác giả đã lựa chọn thời điểm ‘chiều’ để diễn tả nỗi nhớ, đây chính là sự lựa chọn khéo léo và tinh tế. Bởi buổi chiều thường gợi cảm giác buồn mênh mang và buồn man mác, thời điểm thường khiến cho trái tim con người dễ yếu lòng hơn.

Không gian tiễn đưa không phải ở bến sông, cũng không phải lúc ngày đã tàn nhưng cảm xúc trong lòng của người ở lại da diết và bâng khuâng đến như vậy. Phải chăng nỗi buồn, nỗi nhớ đó như khiến tác giả cảm chừng nặng tựa nghìn non. Đôi mắt của người ra đi và kẻ ở lại như đong ‘đầy hoàng hôn’. Có lẽ hoàng hôn trong lòng người đang khiến cho cảm xúc của cuộc tiễn đưa thêm nặng nề. Đây không phải là cuộc tiễn đưa vợ chồng, mà là cuộc tiễn đưa vì nghĩa lớn, nhưng tâm trạng và cảm xúc của hai người vẫn chẳng thể vơi bớt được.

Với sự cảm nhận tinh tế, cách vận dụng điển tích, điển cố tiêu biểu và đầy sức gợi; Thâm Tâm đã khiến cho người đọc không thể kìm nén được cảm xúc khi nhắc đến hai từ chia li. Thâm Tâm xứng đáng là một nhà thơ tài năng, với cách viết đầy ấn tượng như thế.

 

Đề bài:Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn

Bài làm

Lỗ Tấn là nhà văn hiện thực lớn của Trung Hoa với những tác phẩm phán ảnh đúng con đường đi của nhân dân thời bấy giờ. Truyện ngắn “Thuốc” đã nói lên được tư tưởng sai lầm lạc hậu của nhân dân và đảng cộng sản của Trung Hoa trong thời kì khai sang. Hình ảnh “chiếc bánh bao tẩm máu người” có lẽ là hình ảnh ám ảnh người đọc cho đến khi gấp trang truyện lại. Một hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc nhất.

Chiếc bánh bao tẩm máu mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau, nhưng nó đều tập trung vào ẩn ý nghệ thuật của Lỗ Tấn. Ông đã mượn hình ảnh này để phản ánh những con người lạc hậu, những tư tưởng ấu trĩ đang ăn mòn tâm hồn của người dân Trung Hoa.

Chiếc bánh bao trước hết mang ý nghĩa thực chính là thực phẩm mà người dân trung hoa vẫn ăn hằng ngày. Nhưng trong tác phẩm này, nó trở thành một vị thuốc “thần” để cứu người, một vị thuốc mà khiến người ta chết nhưng con người vẫn tin vào đó để truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Một phương thuốc chữa bệnh mê tín, lạc hậu dẫn đến nhiều cái chết thương tâm.

Ý nghĩa thứ hai, “Chiếc bánh bao tẩm máu đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt” để gợi nhắc về bệnh u mê, lạc hậu của quần chúng và bi kịch của những chiến sĩ cách mạng tiên phong. Một ví dụ điển hình chính là bố mẹ thằng Thuyên vì gia trưởng đã áp đặt cho con mình sử dụng phương thuốc này và dẫn đến cái chết thê thảm của nó. Và tất cả những con người có mặt trong quán trà cũng suy nghĩ ấu trĩ và lầm lối như vậy. Chiếc bánh bao vô tri vô giác kia đã trở thành kẻ giết người. Đây chính là sự ấu trĩ đến điên cuồng, không chịu tìm phương pháp nào, chỉ răm rắp nghe theo phương pháp không lối thoát này.

Ý nghĩa thứ ba của hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người còn là tư tưởng và con đườngđi sai lầm của những người làm cách mạng. Những người tiên phong đi trước quá xa rời quần chúng, không đi sâu tìm hiểu và nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Máu để tấm chiếc bánh bao chính là máu của chiến sĩ Hạ Du đã hi sinh mình để cống hiến cho đất nước. Nhưng nhân dân Trung Hoa lại cho rằng anh là kẻ phản bội, là giặc nên căm phẫn. Mẹ Hạ Du thì xấu hổ không hiểu con mình, chú của Hạ Du thì thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng. Hạ Du là chiến sĩ cách mạng nhưng lại không gần dân để gây nên kết cục thê thảm như vậy. Hạ DU là tiêu biểu nhưng còn rất nhiều chiến sĩ nữa cũng đang trong tình trạng u mê, xa rời quần chúng như vậy.

Như vậy hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thực sự nêu bật lên chủ đề tư tưởng của Lỗ Tấn. Đã làm nổi bật lên nỗi đau, lên con đườngbế tắc dến cùng cực của con đường lãnh đạo nhân dân đấu tranh của chiến sĩ. 

Đề bài:Bức tranh phố huyện nghèo qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Bài làm

Thạch Lam là cây bút trưởng thành trong nhóm Tự lực văn đoàn với phong cách sáng tác không thể lẫn lộn với bất cứ nhà văn nào. Những trang viết của ông nhẹ nhàng, sâu lắng, man mác và dìu dặt. Đó như là những lời tâm tình thủ thỉ nhưng lại có sức ám ảnh đối với người đọc. Những câu chuyện ông kể thường không có cốt truyện, bởi mọi thứ được viết bởi một chất liệu nhẹ và sâu nhất. “Hai đứa trẻ” là một câu chuyện như vậy. Truyện ngắn này đã vẽ lên bức tranh phố huyện nghèo với những mảnh đời nghèo khó, cơ cực trong xã hội.

Thạch Lam luôn khiến cho người đọc nhận ra được sự tinh tế trong tâm hồn, trong những câu văn. Sự nhẹ nhàng đã làm nên nét độc đáo trong văn của Thạch Lam. “Hai đưa trẻ” là câu chuyện xoay quanh cuộc sống của An và Liên tại phố huyện nghèo với những công việc nhàn nhạt được lặp đi lặp lại hằng ngày. CŨng qua hai nhân vật này, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc nhiều thông điệp về cuộc sống, về những khó khăn mà con người đã trải qua.

Chất liệu làm nền cho câu chuyện chính là khung cảnh phố huyện nghèo luôn chấp chới, ẩn hiện trong mỗi trang viết. Có lẽ chính bức tranh là gợi nên cảm hứng để Thạch Lam bày tỏ cảm xúc của mình. Và có phải đây chính là phố huyện nghèo Cẩm Giàng – nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên.

Khung cảnh phố huyện nghèo hiện lên ở những câu văn đầu tiên “Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ, từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều…”. Một tiếng trống vang lên trong một buổi chiều sắp tàn, và có lẽ cảnh vật và con người đang đắm chìm vào trong trạng thái lơ đãng. Tại sao tác giả lại lựa chọn một buổi chiều mùa thu để làm cảm hứng vẽ lên bức tranh phố huyện? Là bơi mùa thu luôn gợi buồn, gợi nhớ, gợi nhiều xúc cảm nhất. Hình ảnh hai đứa trẻ xuất hiện với những công việc thường ngày “thắp đèn” rồi “đóng quan” và ngắm nhìn đoàn tàu chạy từ Hà Nội trở về, vụt sáng lên và rồi lại rơi vào hụt hẫng.

Hình ảnh phố huyện buổi chiều tà được tác giả phác họa qua những chi tiết “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết  và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá khiến chị em Liên tường là mùi riêng của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu”. Đó chính là khung cảnh của khu phố nghèo lúc ngày đã tàn, một sự héo úa, tàn phai và cả sự tiêu điều hiu quạnh hiện lên trước mắt người đọc. Có lẽ đây chính là hiện thực thời bấy giờ ở miền bắc nước ta. Mọi thứ dường như chông chênh, không điểm nhấn, không sức hút và dường như không có sự sống. Tất cả chỉ là những điều bình dị, gần gũi nhưng lại phảng phất nghèo đói.

Những câu văn mềm mại, mượt mà diễn tả một không gian đìu hiu, vắng lặng ở phố nghèo. Trên cái nền u ám đó xuất hiện bóng dáng những đứa trẻ nghèo “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh trem hay bất cứ cái gì có thể dùng được. Liên động lòng nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng”. Một bức tranh thêm ảm đảm hơn khi những con người nghèo khổ xuất hiện, dường như đã nhân đôi cái nghèo, cái khốn khó của mảnh đất này. Và người đọc thấy toát lên vẻ đẹp tâm hồn của Liên,thánh thiện và cao cả.

Trong bức tranh làng quê nghèo ấy còn có rất nhiều số phận khác nữa, tất cả đã tạo nên sự hỗn độn của phố huyện buổi chiều tàn. Đó là hình ảnh mẹ con chị Tí dọn hàng nhưng “chả kiếm được bao nhiêu”. Hay chính là hình ảnh của chị em Liên từ khi dọn về phố nghèo này, hai chị em bán hàng giúp cho mẹ trên một gian hàng bé thuê lại của người khác, một tấm phên nứa dán giấy nhật trình.

Những con người lẳng lặng, những con người cần mẫn lặng nhìn cái nghèo đói diễn ra trước mắt nhưng cũng không thể làm gì được.

Xen lẫn những con người nghèo khổ vật chất còn là hình ảnh bà cụ Thị bị điên vẫn thường hay mua rượu tại cửa hàng nhà liên. Hình ảnh bà cụ thi “ngửa cổ uống một hơi sạch, đặt 3 xu vào tay liên và lảo đảo bước đi” khiến người đọc chạnh lòng về một khiếp người, một đời người dật dờ, không bến đỗ.

Giữa chốn phố huyện này, dường như ai cũng mong ngóng một chuyến tàu từ Hà Nội chạy về đây mang theo sự ồn ào, huyên náo và tấp nập hơn nữa. Có lẽ chuyến tàu có ý nghĩa to lớn đối với những phận người nơi mảnh đất này. Bởi “con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua”/ Đó có thể là thế giới có sự phồn hoa ngày xưa của hai chị em Liên, có cuộc sống sung túc và bình an hơn.

Chuyên tàu có lẽ chính là ước mơ, là khát vọng được vươn ra ánh sáng của những con người tại phố huyện nghèo này.

“Hai đứa trẻ” là một câu chuyện nhẹ nhàng, không có tình huống gay cấn những lại khiến cho người đọc thấy ám ảnh về những mảnh đời, mảnh đất nghèo nàn những năm đất nước ta còn chìm trong bom đạn. 

Đề bài : Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Bài làm

Xuân Quỳnh là nữ nhà thơ có phong cách sáng tác hồn hậu, đằm thắm nhưng tha thiết và mãnh liệt. Đọc thơ chị chúng ta như lạc vào một thế giới với đầy cung bậc cảm xúc khác nhau. Bài thơ “Sóng” rút trong tập Hoa dọc chiến hào là một tác phẩm như vậy. Xuân Quỳnh muốn gửi gắm những tâm sự thầm kín nhưng rất mực sâu sắc và da diết qua những vần thơ 5 chữ này.

Có lẽ thể thơ 5 chữ rất phù hợp cho phong cách sáng tác cũng như mục đích sáng tác bài thơ này của Xuân Quỳnh. Với tâm hồn sôi nổi, trẻ trung, tính yêu phơi phới, sống và cống hiến hết mình Xuân Quỳnh đã trải lòng mình trên những vần thơ thật đẹp.

Sóng là hình tượng trung tâm, xuyên suốt bài thơ, biểu tượng cho khát vọng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Những biểu hiện của sóng chính là những cung bậc tình cảm của người con gái, khi dịu dàng, khi dữ dội, khi mãnh liệt không thể kiềm chế được. Cũng có thể nó Xuân Quỳnh đã hóa thân vào sóng để biến tình yêu của mình thành bất diệt trong trái tim.

Tác giả mở đầu bài thơ bằng sự đối lập của sóng:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Đọc những câu thơ này lên, người đọc nhận ra sự đối lập một cách rõ nét của sóng. Sóng có lúc yên lặng, không nổi sóng nhưng khi có giông bão thì lại cuồn cuộn lên dữ dội, ồn ào. Sóng với muôn vàn biểu hiện, không bao giờ đứng yên. Tâm hồn người con gái khi yêu có chăng cũng như vậy, luôn chồng chất nhiều trạng thái và trăn trở khác nhau. Nếu như hiện tượng của sóng khó có thể giải thích nổi thì những trạng thái khi yêu của người con gái cũng thế. Khi thế giới này chật hẹp quá nhưng tình yêu lại quá rộng lớn, con “sóng” ấy muốn đi đến một nơi thật xa, có thể vẫy vùng, có thể bắt nhịp yêu thương.

Có thể nói phong cách thể hiện cũng như quan niệm của Xuân Quỳnh trong tình yêu thật mới mẻ, đầy sức hút.

Tuy tâm trạng luôn biến động nhưng con sóng cũng như tấm lòng người con gái khi yêu vẫn luôn như thế, không biến đổi, nó càng mãnh liệt hơn:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Khát vọng trong tình yêu luôn mãnh liệt và tha thiết. Tuổi trẻ là tuổi của tình yêu và hi vọng. Tình yêu càng lớn, khát vọng càng mãnh liệt. Đó dường như là chân lý trong tình yêu. Tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu tràn đầy hi vọng.

Sang những khổ thơ tiếp theo, hình ảnh nhân vật trữ tình đã xuất hiện giãi bày những tâm sự cũng như những hoài nghi chưa giải thích được:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Đến quy luật của tự nhiên “sóng” từ đâu, “gió” từ đâu con người cũng không thể giải thích được thì tình yêu đến từ bao giờ có phải chăng cũng khó lí giải hay không? Sự vô hạn của thiên nhiên khiến cho sự hữu hạn của tình yêu bất lực, không thể giải thích. Lại thêm một quan niệm mới về tình yêu của Xuân Quỳnh. Tình yêu vốn là thứ khó đoán, nó đến từ bao giờ lại càng mơ hồ hơn hết.

Câu thơ “Em cũng không biết nữa” thể hiện sự hồn nhiên nhưng đáng yêu của người con gái. Như một kiểu hờn dỗi vô cớ với chính bản thân mình.

Xuân Quỳnh đã tìm đến với những cung bậc của sóng để thể hiện cung bậc tha thiết và mãnh liệt nhất trong tình yêu

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Lại là một cấu trúc đối lập tương phản có giá trị cao trong việc thể hiện trạng thái khi yêu. Nỗi nhớ trong tình yêu luôn là điều cồn cào và tha thiết nhất. Dù là “Sóng trên mặt nước” hay “sóng dưới lòng sâu” thì “bờ” vẫn luôn là điều mà sóng nhớ nhung nhất. Cũng như “anh” vẫn luôn là nỗi nhớ thường trực trong “em”. Đặc biệt nỗi nhớ này càng da diết và cồn cào hơn ở cả ngảy trong mơ. Nỗi nhớ cứ thường trực, chực trào ra ngay bất cứ lúc nào.

Người ta vẫn nói trong tình yêu con gái luôn ở thế bị động, nhút nhát, e dè nhưng trong thơ của Xuân Quỳnh con gái ở thế chủ động, không che dấu tình cảm của mình, cứ để nó tràn ra. Một cách thể hiện, một quan niệm mới mẻ đầy ấn tượng đối với người đọc.

Tình yêu của “em” luôn thủy chung dù cho hai người ở cách xa:

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

Dù không gian mênh mông và thời gian dài đằng đẵng thì trái tim của “em” vẫn chỉ hướng về mỗi anh. Đó như một lời thế sâu sắc và bất diệt trong tình yêu của người con gái.

Nhưng dẫu tình yêu có dài, có sâu nặng thì tấm lòng của người con gái vẫn luôn thấp thỏm, lo ngại:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Những câu thơ thoáng một nỗi buồn mênh mang và xa xăm, chuyện gì rồi cũng qua đi, năm tháng và tình yêu cũng vậy. Liệu rằng tình yêu có thể vĩnh cửu hay không, chỉ có thể hòa mình vào thiên nhiên, vào đất trời thì mới có thể làm cho tình yêu bay cao, bay xa hơn.

Những băn khoăn, trăn trở trong tình yêu của người con gái đã trở nên mãnh liệt, thôi thúc thành ước vọng:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Nhân vật trữ tình đang loay hoay tìm cách làm tan chảy những con sóng hòa vào đại dương mênh mông để tình yêu luôn tồn tại, luôn còn mãi, vĩnh cửu. Vốn dĩ tình yêu không bao giờ đơn đọc một mình, nó luôn hòa với thế giới bao la ở bên ngoài. Xuân Quỳnh thực sự rất khéo léo và tài hoa, kết tinh được những khát vọng lớn lao của người con gái.

“Sóng” là một bài thơ hay, ý nghĩa, vừa sôi nổi vừa hồn nhiên vừa mãnh liệt vừa mang ý tượng trưng cho một tình yêu bất diệt và tha thiết. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ tiêu biểu, với một phong cách hiện đại, nữ tính nhưng mãnh liệt, cháy bỏng.

 Đề bài : Nghị luận xã hội về lòng tự trọng

Bài làm

Nhân cách của một con người luôn là điểm nhấn tạo ấn tượng mạnh đối với những người xung quanh và khiến bản thân bạn tự tin hơn. Lòng tự trọng là một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng hình tượng hoàn thiện hơn trong mắt mọi người.

Vậy lòng tự trọng là gì? Lòng tự trọng chính là tự ý thức được suy nghĩ, hành động của bản thân mình có phù hợp với xã hội, với thước đo nhân cách hay không. Tự trọng chính là xuất phát từ tâm, từ chính bản thân mình khi nhìn nhận và đánh giá những việc xung quanh. Tự trọng còn là việc tự biết được giá trị của bản thân mình, biết nhận sai, sửa sai, không làm những việc xấu hổ với lương tâm. Những người có lòng tự trọng thường có tư thế rất hiên ngang, sống ngẩng cao đầu, không sợ cái xấu, cái ác.

Mỗi chúng ta tồn tại trong xã hội này đều cần phải có lòng tự trọng để đối nhân xử thế, để hiểu mình, hiểu người, để biết được những việc mình đang làm có trái với lương tâm hay không. Ai sinh ra cũng đều có những khuyết điểm cần phải hoàn thiện và khắc phục từng ngày, nếu chúng ta ý thực được điều này mà cố gắng hoàn thiện bản thân mình thì chắc chắn sẽ trở thành người tốt. Lòng tự trọng sẽ là một trong những kim chỉ nam giúp cho bạn có thể xác định được hướng đi rõ ràng, cụ thể hơn.

Trong cuộc sống, lòng tự trọng của mỗi người luôn được biểu hiện hằng ngày, khi chúng ta giao tiếp với nhau hay khi chúng ta tự đánh giá bản thân mình. Lòng tự trọng khi đến trường chính là việc không học bài cũ, cũng không được giở tài liệu để chép vào bài kiểm tra, không được nhìn bài của bạn. Mặc dù hành động này rất nhỏ nhưng nó góp phần hình thành nên tính cách và nhân phẩm của chính cậu học sinh đó về sau. Cậu sẽ ý thức được rằng nếu không phải do chính mình làm ra thì sẽ không phải của mình, không được cướp giật, không được xin xỏ. Như thế là không có lòng tự trọng.

Cha ông ta vẫn có câu “Đói cho sạch, rách cho thơm’ muốn nhắn nhủ đến mọi người rằng dù có nghèo khó, đói rách đến cỡ nào thì cũng phải cho sạch, cho thơm. Như thế thì mới không bị mọi cười chê, ít nhất thì vẫn giữ được lòng tự trọng trong sáng dù vật chất thiếu thốn. Cuộc sống này vẫn luôn có những người nghèo khổ, nhưng họ quyết không làm những việc xấu xa như cướp giật, trộm cắp…Họ tự vượt lên chính mình, vượt lên số phận bằng sức lực ít ỏi của mình, làm ra đồng tiền có giá trị. Đây mới là điều đáng quý. Thực ra tự trọng không ở đâu xa, tự trọng vẫn luôn ở trong mỗi chúng ta, chỉ là bản thân mình có để nó được phát huy hay không thôi.

Sống tự trong, mỗi người sẽ thấy mình cảm nhận cuộc sống theo chiều hướng tích cực hơn. Bản thân mình sẽ làm những việc tốt cho xã hội, cho những người xung quanh.

Có rất nhiều người thành đạt, nhưng họ không bao giờ kiêu ngạo hay khoe khoang. Họ sống là chính mình, sống không hổ thẹn. Họ thành công nhưng chưa bao giờ bị thành công và hào quang vùi lấp. Họ yêu quý và giúp đỡ những người xung quanh. Vì họ ý thức được rằng cái gì cũng có giá của nó. Lòng tự trọng sẽ gắn kết trái tim mỗi người lại với nhau.

Tuy nhiên trong xã hội tồn tại không ít người đánh mất lòng tự trọng, làm những việc trái với đạo đức, với lương tâm. Rất nhiều học sinh bây giờ xúc phạm thầy cô giáo, không coi thầy cô ra gì. Bỏ ngoài tai những lời giảng, lời khuyên chân thành. Vì họ đã đánh mất lòng tự trọng nên họ mới ứng xử thiếu chừng mực như vậy.

Thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước cần ý thức được lòng tự trọng của mình và cố gắng giữ gìn, phát huy nó để hoàn thiện bản thân và trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Lòng tự trọng luôn chưa bao giờ là thừa, bởi vậy chúng ta sống thật, sống có giá trị là điều cần thiết nhất. 

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

Bài làm

Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” với những bài thơ tình yêu bất hủ, thể hiện những quan điểm sâu sắc về tình yêu lứa đôi một cách mãnh liệt nhất. “Vội vàng” là bài thơ bộc lộ sự khát thèm trong tình yêu cũng như ý niệm mới về thời gian và tuổi trẻ.

Cảm hứng của bài thơ “Vội vàng” chính là tình yêu, thời gian, tuổi trẻ và mùa xuân. Tác giả đã xâu chuỗi lại những yếu tố đó để thể hiện quan niệm của mình về cuộc đời luôn trôi đi vội vàng, nếu không sống thì sẽ uổng phí cả một cuộc đời. Bài thơ như tiếng lòng, cũng là lời kêu gọi mọi người hãy sống hết mình, nhiệt huyết hết mình vì thời gian không bao giờ đứng đợi một ai.

Quan điểm sống của Xuân Diệu xuất hiện ngay từ những câu thơ đầu tiên:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Khát khao mãnh liệt cháy bỏng, muốn chiếm lĩnh thế giới tự nhiên bao la và rộng lớn. Ước muốn này, khát khao này được thoát lên qua từng câu chữ thật mãnh liệt. Từ “tôi muốn” được điệp lại hai lần như nhấn mạnh hơn nữa khát khao ấy thật cháy bỏng. “Nhạt nắng” và “buộc gió” là những hình ảnh vô hình, không thể sờ, nắm giữ cho riêng mình được. Nhưng Xuân Diệu lại khát thèm được làm những thứ đó. Ông không muốn để thời gian, để cho mưa nắng cuộc đời làm nhạt phai, cuốn đi hết tuổi trẻ đang tràn đầy năng lượng và nhiệt huyết.

Tác giả say mê cảm nhận sự chuyển động của đất trời cũng như vẻ đẹp tuyệt vời của mùa xuân và tuổi trẻ:\

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Mỗi buổi sáng thần Vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Một đoạn thơ thật đẹp, trữ tình, lãng mạn, tràn đầy tình yêu cuộc sống. Ngòi bút tài hoa, tinh tế của tác giả khiến bức tranh mùa xuân hiện lên như một “thiên đường trên mặt đất” đầy say mê và quyến rũ. Thiên nhiên căng tràn nhựa sống, đất trời như ngập trong sắc hương của hoa. Những hình ảnh tuyệt đẹp gắn với mùa xuân khiến tác giả cứ ngỡ mùa xuân như ‘tuần tháng mất”. Tuần tháng mật có ý chỉ sự ngọt ngào, viên mãn và lãng mạn của mùa xuân không mùa nào có thể sánh bằng. Với biện pháp liệt kê, tác giả đã lần lượt phác họa từng đường nét tinh khôi, tươi đẹp của mùa xuân.

Hình ảnh “tháng giêng ngon như cặp môi gần” thực sự là hình ảnh táo bạo của Xuân Diệu. Hình ảnh này khiến người đọc liên tưởng đến sự khát thèm đến tột độ của Xuân Diệu về mong muốn được giữ lại mùa xuân, giữ lại tuổi trẻ cho riêng mình.

Tuy nhiên khi đang đắm chìm trong vị ngọt của thiên nhiên, của tình yêu thì Xuân Diệu cũng chua xót nhận ra sự trôi đi vội vàng, quá hững hờ của thời gian khiến chúng ta không thể nhìn lại được.

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hồi xuân

Dấu chấm được đặt ngay giữa câu thơ gợi tả sự đứt quãng, cảm xúc chuyển đổi đột ngột khiến cho nhân vật trữ tình hoảng hốt, vội vàng, không thể kiềm chế được mình. Niềm vui còn ở đó nhưng tác giả nhận ra nỗi buồn đang đến gần, tuổi trẻ cũng sắp qua đi trong tiếc nuối. Đây là một quan điểm rất hiện đại, rất mới của Xuân Diệu trong thời đại đó.

Suy nghĩ của ồng về thời gian còn được tiếp diễn:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Quan niệm thời gian rất đúng đắn, phù hợp với quy luật của tự nhiên. Việc tác giả nhận ra sự nghiệt ngã này của thời gian khiến cho lòng ngươi chùng xuống khi phải trải qua sự đau đớn, tiếc nuối, dằn vặt khi tuổi trẻ đã đi qua. Cuộc đời con người “sinh, lão, bệnh, tử” đều không đoán trước được, nhưng ý thức về thời gian của Xuân Diệu khiến chúng ta thêm nâng niu và trân trọng hơn nữa cuộc đời này.

Nhận ra sự khắc nghiệt của thời gian,tác giả muốn sống vội vàng, sống như thể ngày mai sẽ chết. Khát khao, ước vọng và sự sống vội đó được thể hiện:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

Khổ thơ này là khát khao đến cháy bỏng của Xuân Diệu về thời gian, về cuộc đời, về tuổi trẻ. Ông sống vội vàng, yêu vội vàng để không uổng phí những năm tháng của tuổi trẻ. Cuộc sống này vẫn còn tươi đẹp, hãy tận hưởng, hãy hưởng thụ hết sự tươi đẹp và viễn mãn đó. Đây chính là thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến người đọc.

Như vậy bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu với những hình ảnh đẹp và những khát khao chát bỏng đã khiến cho người đọc chìm đắm vào đó và khó có thể thoát ra ngoài.

Đề bài:Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong Vội vàng của Xuân Diệu

Bài làm

Khi nhắc đến “ông hoàng thơ tình” thì chắc chắn người đọc sẽ nghĩ ngay đến Xuân Diêu, một hồn thơ nồng nàn, say đắm, cuồng nhiệt trong tình yêu. Những vần thơ của ông chính là nỗi lòng của chính mình. Bài thơ “Vội vàng” là một điệp khúc tình yêu say đắm, nồng nàn của một người đang yêu. Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ này khiến cho người đọc như hòa chung vào nhịp đập đó.

Bài thơ được cất lên với giọng điệu say đắm, nồng nàn và căng tràn sự sống của thiên nhiên. Qua con mắt của nhân vật trữ tình, cảnh sắc mùa xuân hiện lên thật tươi mới, trong lành:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si.

Tiếng lòng của nhân vật trữ tình như đang reo vui cùng với cảnh sắc thiên nhiên rộn ràng, tưng bừng. Tháng Giêng luôn là tháng khiến tâm trạng con người vui tươi, tràn đầy nhiệt huyết, và đặc biệt trong tình yêu thì đây chính là thời điểm đượm nồng, đắm say nhất. Nhân vật trữ tình đã gọi tháng giêng là “tháng mật” gợi lên sự ngọt ngào và nồng nàn. Với điệp từ “này đây” như đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sự xinh đẹp của thiên nhiên dường như khiến cho nhân vật trữ tình xôn xao đến khó tả.

Những hình ảnh đẹp “đồng nội xanh rì” và “cành tơ phơ phất” khiến cho khúc hát mùa xuân như dậy sóng ở trong lòng.

Giọng điệu ở 4 câu thơ cất lên như tiếng reo vui rộn ràng và tươi mới của tâm hồn một người đang yêu đứng giữa trời đất bao la, rộng lớn.

Và cảm xúc tinh khôi, mới mẻ đó đã dồn nét, cất lên thành lòng ham muốn:

Tôi sung sướng nhưng vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Niềm sung sướng, hân hoan của mùa xuân, của tình yêu đã khiến cho nhân vật trữ tình hân hoan. Nhưng dường như chợt nhận ra điều gì đó mà nhân vật đã bỗng dưng chững lại vì từ “nhưng” khiến cho giọng thơ trở nên lắng lại. Bỗng nhiên chuyển sang giai đoạn “vội vàng một nửa”. Tứ thơ đã khiến người đọc nhận ra tâm trạng dửng dưng, chưng hửng của nhân vật trữ tình. Tại sao không vui hết đi mà lại phải vội vàng một nửa. Có lẽ bước chuyển mình của thời gian khiến cho nhân vật trữ tình thấy nuối tiếc, sợ thời gian trôi đi không trở lại.

Lúc này, nhân vật “tôi” đã xuất hiện mà cảm thấy chênh vênh khi nghĩ đến mùa xuân trôi đi, rồi mùa xuân lại lại. Thời gian tàn khốc cướp mất đi mùa xuân, vô tình cướp mất đi tình yêu đang căng tràn nhựa sống.

Đây là một thái độ sống rất tích cực, nó có thể đánh thức trái tim của mỗi con người, nhất là tuổi trẻ. Hãy cố gắng sống và tận hưởng cuộc sống tươi mới khi còn có thể, vì thời gian trôi đi không bao giờ quay trở lại.

Ở những câu thơ tiếp theo, giọng thơ trở nên gấp gáp và chính tâm trạng của nhân vật “tôi” cũng vội vàng, cuống quýt. Thời gian đã khiến cho nhân vật trữ tình sợ, lo lắng;

Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao giờ nữa

Mau đi thôi, màu chưa ngả chiều hôm

Đến đây chúng ta đã thực sự nhận ra cảm xúc, tâm trạng của nhân vật “tôi”. Thái độ sống vội vàng, sống nhanh chóng, sống cho cả ngày mai. Dường như ‘tôi” đang bất lực với chính cuộc sống hiện tại vì chẳng thể giữ nổi những điều tốt đẹp nữa.

Có lẽ vì thế ở những câu thơ cuối, chúng ta nhận ra khát khao mãnh liệt, cháy bỏng của nhân vật trữ tình:

Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều.

Điệp từ ‘ta” được điệp lại ở đầu mỗi câu thơ khiến cho giọng thơ trở nên gấp gáp. Khao khát của “ta” được dồn nén từ bấy lâu nay đến giờ đã vỡ òa ra. Những hình ảnh tươi đẹp của mùa xuân đang căng tràn như vậy nhưng nhân vật trữ tình lại nghĩ đến cảnh mọi thứ vội tan biến theo thời gian. Đây chính là một ý thức về thời gian rất mới, tiến bộ và hiện đại, đánh thức được suy nghĩ của thế hệ trẻ sau này.

Như vậy qua bài thơ “Vội vàng” Xuân Diệu đã khiến người đọc phải say, phải vội vàng, cuống quýt cùng nhân vật trữ tình. Có lẽ đó chính là thông điệp của Xuân Diệu về cảm thức thời gian

Đề bài:Phân tích nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

Bài làm

“Chí Phèo” của Nam Cao là kiệt tác trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Tác giả đã xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình là Chí Phèo. Qua nhân vật này ông gửi gắm khát vọng rất đỗi bình dị của con người những lại đi vào bế tắc. Nếu Chí Phèo vừa đáng trách, vừa đáng thương thì Thị Nở lại là nhân vật để lại nhiều ám ảnh đối với người đọc.

Thị Nở trong từng trang viết của Nam Cao là người con gái xấu xí, ngẩn ngơ đến nỗi “ma chê quỷ hờn”. Không phải Thị Nở nghiễm nhiên bước vào trang truyện của Nam Cao, đó chính là dụng ý nghệ thuật cũng là dụng ý nhân văn mang ý nghĩa sâu xa. Đó cũng chính là tấm lòng của Nam Cao dành cho Chí Phèo. Hắn sinh ra không có ai thân thiết, bị người đời gạt bỏ; chỉ có Thị Nở đối với hắn tốt như vậy. Thị Nở chính là người có thể kéo Chí Phèo ra khỏi vũng bùn tăm tối.

Thi Nở được Nam Cao xây dựng rất kì công từ hình thức đến tâm hồn. Đó là một người đàn bà có ngoại hình xấu xí, vừa xấu vừa ngớ ngẩn. Cái xấu của Thị Nở được Nam Cao gói gọn trong 4 từ “ma chê quỷ hơn”. Chỉ 4 chữ đó đã có thể khiến người đọc hình dung ra “dung mạo” người phụ nữ làng Vũ Đại này. Người ta vẫn bảo ở đời ít người vừa xấu xí, vừa nghèo, vừa ngớ ngẩn. Nhưng thực ra Thị Nở lại mang trong mình cả 3 điều đó.

Không phải Nam Cao không yêu thương nhân mình của mình, chỉ là ông yêu họ theo một cách khác, đặc biệt hơn, như chính con người của họ. Chỉ có như thế Thị Nở mới có thể sánh với CHí Phèo, những người cùng cảnh ngộ.

Thị Nở nghèo, cái nghèo đeo bám. Cả làng Vũ Đại ai cũng biết đến Thị, vì ngoại hình thô kệch và nghèo. Thị đi gánh nước thuê để kiếm sống qua ngày. Thị cúng như Chí Phèo, không được ai yêu thương.

Có lẽ đây chính là dụng ý của Nam Cao khi để Chí Phèo và Thị Nở gặp nhau. Những kẻ cùng đường trong xã hội đến với nhau, yêu thương nhau, có thể chỉ trong phút chốc nhưng cũng gọi là có được tính yêu.

Thị Nở là người đàn bà nghèo, xấu xí, tính tình ngẩn ngơ nhưng lại có một tấm lòng trong, rất sáng, là tình yêu thương người. Có lẽ đây chính là điều mà Nam Cao muốn gửi gắm, nhắn nhủ đến mọi người.

Nhân vật thị nở được khắc họa qua đêm gặp Chí Phèo, qua chi tiết bát cháo hành, qua từng cử chỉ ân cần và lời hỏi thăm dành cho Chí. Có lẽ đây là đoạn văn thấm đẫm tình yêu, đoạn văn đẹp giữa những con người cùng cực, bế tắc trong xã hội.

Thị Nở thương Chí Phèo, một tình thương xuất phát từ trái tim, lòng cảm thông sâu sắc, không vụ lợi, không cá nhân. Chỉ đơn giản đó là tình yêu. Chí Phẻo – con quỷ làng Vũ Đại, nhưng hắn cũng là người, cũng cần được yêu thương. Hắn cần Thị, cả cuộc đời hắn cần thị như thế.

Thị Nở và Chí Phèo đến với nhau trong cái đêm hôm ấy, đêm Chí Phèo say rượu, họ sống như vợ chồng suốt mấy ngày. Bát cháo hành là động lực, là sợi dây kết nối tình cảm giữa Thị Nở và Chí Phèo. Có thể nói Thị Nở và bát cháo hành là cứu cánh cho cuộc đời của Chí Phèo về sau.

Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Thị Nở giữa những trang truyện chỉ toàn đau thương và oán hận của Chí Phèo. Thị Nở chính là tia sáng, đánh thức và khơi gợi lương tâm của Chí Phèo những ngày cuối cùng của cuộc đời. Chí ít dù sau này Chí Phèo có tự kết liễu đời mình thì Chí cũng đã cảm nhận được như thế nào là tình yêu, là tình người.

Thị Nở là hiện thân của sự khao khát tình yêu lứa đôi bình dị, chân thành, mãnh liệt, không vụ lời. Đó là tình cảm mà Chí Phèo luôn khát khao nhưng lại không có được.

Nam Cao đã để lại trong lòng người đọc nhiều ám ảnh về nhân vật Thị Nở. Là người có thể làm thay đổi Chí Phèo, cũng là người mang lại yêu thương nhỏ nhoi, ít ỏi cho Chí. Đây chính là giá trị nhân văn của truyện ngắn Chí Phèo

Đề bài:Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Bài làm

Với phong cách thơ bình dị, nhẹ nhàng, chân chất; Nguyễn Bính được xem là nhà thơ của đồng nội. Thơ Nguyễn Bính đi sâu vào tâm hồn người đọc bằng chất “quê” đặc biệt, chất “quê” của nông thôn Việt Nam. Tình yêu trong thơ ông rất đỗi ngọt ngào, sâu lắng và dìu dặt như chính con người ông. Bài thơ “Tương tư” rút trong tập “Lỡ bước sang ngang” giãi bày tâm sự thầm kín của một người đang yêu, đang thương nhớ, đang khắc khoải và mong chờ đau đáu.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Bính đặt tên bài thơ là “Tương tư”, đây là cảm giác nhớ thương của một kẻ đang yêu, nói đúng hơn là của kẻ yêu đơn phương, đang mong chờ được đáp lại. Mối tình ấy được ấp ủ, được dồn nén thành lời qua những vần thơ mộc mạc, chân thành nhất:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Một không gian thôn quê hiện lên thật bình dị, đơn sơ, và yên bình đến lạ. Thủ pháp nhân hóa được sử dụng rất tài tình, tinh tế. Tác giả mượn “thôn Đoài” và “thôn Đông” để nói lên nỗi nhớ từ tận sâu đáy lòng của mình. Chắc hẳn rằng người mà tác giả đang tương tư ở thôn Đông, còn tác giả lại ở thôn Đoài. Mối tình ấy ẩn mình trong sự thanh mát và bình dị của đồng quê.

Tinh tế và sâu sắc hơn nữa tác giả đã mượn chuyện nắng của của giời để trải lòng mình. Tác giả coi “tương tư” là một căn bệnh đã tiềm ẩn trong chính con người mình, cũng rất đỗi bình thường như bao chuyện khác, giống như quy luật của đất trời.

Chỉ với 4 câu thơ ấy, đã khiến người đọc thích thú muốn tìm hiểu về mối tương tư của anh chàng thôn Đoài và cô nàng thôn Đông này.

Tuy nhiên đến những câu thơ tiếp theo, dường như lại là lời trách móc nhẹ nhàng và rất chừng mừng. Trách cô gái hững hờ, trách người ta sao lại vờ như không biết gì như thế:

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Những đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi ?

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho ?

Bao giờ bến mới gặp đò ?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Những câu hỏi dồn dập, nối tiếp nhau tạo nên sự nối rối, lo lắng và chồng chất nỗi niềm trong lòng chàng trai đang yêu. Tác giả đã mượn lối nói dân gian của ca dao, dân ca để hỏi dò cô gái sao lại hững hờ như vậy.

Giọng điệu của câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, tha thiết như truyền tải thông điệp đến cho cô gái. Từ “cớ sao” như một lời trách nhưng lại rất tế nhị, đáng yêu. Mối tương tư của chàng trai trằn trọc suốt bao nhiêu đêm, nhưng chẳng biết ngỏ cùng ai, rồi cũng chẳng ai thấu cho. Bởi vậy mà chàng trai chỉ chờ đợi “bến gặp đò” để mình có thể gặp nàng. Nỗi băn khoăn trong lòng chàng trai cứ chồng chất, cứ dai dẳng và đợi chờ.

Và rồi chàng trai lại tự hỏi:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

Nhịp điệu của thơ lục bát uyển chuyển, nhẹ nhàng, tha thiết. Tác giả mượn “giàn trầu” và “hàng cau” để diễn tả nỗi nhớ da diết và quấn quýt như dây trầu quấn lấy thân cau. Nguyễn Bính thật khéo léo và tài hoa khi diễn tả nỗi nhớ bằng những hình ảnh thân quen và mộc mạc ấy. Ở 4 câu thơ này, người đọc nhận ra có sự thay đổi giữa cách xưng hô, tác giả đã mạnh dạn chuyển “tổi-nàng” thành “anh-em” rất táo bạo. Dấu hiệu này chứng tỏ mối tình này đã quá lớn, đã quá sâu và chàng trai muốn giãi bày trực tiếp với cô gái.

Cái “tôi” trữ tình của Nguyễn Bính đã được đẩy cao lên, dám bày tỏ, dám yêu. Nhưng tình cảm đó không táo bạo mà ngược lại rất chân thành, mãnh liệt, đồng thời lại rất tế nhị.

Bằng những vần thơ gần gũi, chân thành, đậm hương vị đồng quê, tác giả đã gieo vào lòng người đọc những tình cảm nhẹ nhàng, tha thiết nhất của những người đang yêu. Bài thơ như một nốt nhạc trong lành và yên bình nhất.

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thơ duyên” của Xuân Diệu

Bài làm

Xuân Diệu là “ông hoàng thơ tình’ với những vần thơ say đắm, ngọt ngào và mãnh liệt về tình yêu đôi lứa. Mỗi bài thơ đều để lại trong lòng người đọc nhiều xúc cảm và ấn tượng riêng. “Thơ duyên” là bài thơ tràn đầy cảm hứng mê say, tin tưởng và đầy phấn khởi cho những giây phút rung động trong tình yêu.

Ngay ở nhan đề tác phẩm, người đọc đã cảm nhận được nét “duyên” của con chữ và nét duyên ngầm trong lòng người. Cảm xúc bao trùm bài thơ chính là niềm hăng say, vui tươi, phơi phới khi có những giây phút rung động đầu đời của một chàng trai mới biết yêu. Người đọc chắc  chắn sẽ mê mẩn với những dòng cảm xúc vừa nhẹ nhàng vừa sôi nổi:

Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên

Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Xuân Diệu đã mở đầu bài thơ bằng một không gian thật nên thơ và lãng mạn. Hình như không phải một buổi chiều như một ngày mà là “chiều mộng”. Một buổi chiều lãng mạn, tràn đầy chất thơ, chất nhạc, khiến lòng người say đắm. Một buổi chiều mùa thu nhẹ nhàng, tinh tế có cặp chim đang chuyền nhau trên cành cây mẹ. Một sự hòa quyện, giao thoa thật tuyệt vời giữa thiên nhiên và đất trời. Giọng thơ tuy nhẹ nhàng nhưng tràn đấy hứng khởi.

 “Nhánh duyên” trong câu thơ đầu tiên khiến người đọc liên tưởng đến một mối nhân duyên ngầm nào đó nhưng vẫn còn e thẹn, ngượng ngùng.

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền

Hai câu thơ như tan ra cùng đất trời, mùa thu hiện hữu rõ từng đường nét và lắng nhẹ vào lòng người. Màu xanh của bầu trời như đang “đổ” xuống vạn vật, tạo nên một màu “ngọc” thật trong lành và dịu mát. Từ “đổ” khiến cho câu thơ bừng sáng lên. Đó như báo hiệu một mùa thu ngọt ngào, tinh tế đã đến. Dường như trời đất của mùa thu luôn có sức hút mạnh mẽ như vậy.

Một buổi chiều thật nên thơ, đầy tình tứ sẽ thêm thi vị hơn khi có câu chuyện tình đôi lứa:

Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn

Lần đầu rung động nỗi thương yêu

Hoa ra sự vui tươi của đất trời đều xuất phát từ nỗi rung động “lần đầu” ấy. Hình ảnh con đường“nho nhỏ’ trong câu thơ có điểm xuyết những cành lá đâm ngang như phác họa nên một bức tranh thu nhẹ nhàng, tinh tế đến lạ kỳ. Một không gian khiến cho người đọc ngỡ như mình đang lạc vào cảnh tiên thi vị. Dường như cảnh vật đang tạo cảm giác lâng lâng, nhẹ nhõm của người đang tràn ngập tình yêu. Câu thơ chợt bừng lên niềm reo vui thật khẽ nhưng thật sâu. Thơ Xuân Diệu cứ nhẹ nhàng nhưng đằm thắm như duyên con gái vậy.

Ở những vần thơ tiếp theo, nhân vật chính của tình yêu lần đầu ấy xuất hiện thật nhẹ:

Em bước điềm nhiên không vướng chân

Anh đi lững thững chẳng theo gần

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu

Anh với em như một cặp vần

Anh chàng thi sĩ đi giữa một con đườngmà như có cảm giác đang lạc vào một miền say mê, đắm đuối với tâm thế “lững thững” rất bình tâm, rất nhẹ nhàng và có chút gì đó lưỡng lự. Chàng trai ấy giữ một khoảng cách vừa đủ để cảm nhận được tình yêu đang tan chảy ra cùng mùa thu dịu ngọt, êm ái. Cả “anh” và “em” đều “vô tâm” nhưng dường như ai cũng muốn xích lại gần hơn, gần thêm chút nữa. Bởi ẩn sâu trong suy nghĩ thì câu chuyện tình nhẹ nhàng đó đã như một cặp vần. Những câu thơ nhẹ nhàng, nhịp điệu chậm rãi, khoan thai gieo vào lòng người niềm hân hoan, vui tươi.

Cảnh vật trong bài thơ duyên rất duyên, huyền diệu và tràn đầy vui tươi, làm nền cho tình cảm trở nên lâng lâng:

Ai hay tuy lặng bước thu êm

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm

Trông thấy chiều hôm ngơ ngác vậy

Lòng anh thôi đã cưới lòng em

Mùa thu “êm” như khẽ khàng đi vào trái tim của những kẻ đang yêu, chẳng ai bày tỏ nỗi niềm nhưng lại khiến cho mọi thứ lâng lâng. Buổi chiều mưa thu “ngơ ngác” nhưng nhà thơ đã khẳng định chắc nịch “lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Một Xuân Diệu thật duyên, là duyên ngầm, nhưng cũng thật mãnh liệt. Không phải anh cưới em mà là “lòng anh cưới lòng em”.

“Thơ duyên” của Xuân Diệu là bài thơ tràn đầy niềm tin yêu và tràn nhựa sống. Một bài thơ tình nhẹ nhàng, nhưng cũng không kém phần mãnh liệt.

Đề bài:Phân tích truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao

Bài làm

“Chí Phèo” của Nam Cao là kiệt tác của văn học hiện thực phản ảnh đậm nét xã hội phong kiến đầy rẫy những tội ác và bất công, đồng thời khắc họa thành công hình ảnh người nông dân bị bần cùng hóa. Đọc những trang viết của Nam Cao, người đọc có thể mường tượng ra được bức tranh xã hội phong kiến nhiều ám ảnh.

Xuyên suốt tác phẩm là hình ảnh nhân vật Chí Phèo – một người nông dân lương thiện nhưng bị xã hội chèn ép, chà đạp, đẩy đến bước đường cùng thành kẻ sát nhân. Nam Cao đã để cho nhân vật Chí Phèo xuất hiện ngay đầu tác phẩm bằng “tiếng chửi”. Một loạt tiếng chửi của Chí Phèo như mở màn một cuộc đời nhiều tăm tối của hắn “Hắn chửi trời, hắn chửi đất, hắn chửi cả làng Vũ Đại. Hắn chửi đứa nào đẻ ra hắn…”.

Chí Phèo sinh ra tại một cái lò gạch cũ, được người làng truyền tay nhau nuôi, đến khi hắn đi ở cho Bá Kiến. Bá Kiến vì ghen tuông mà đã đẩy Chí Phèo vào tù, nơi đó bắt đầu hình thành những oán hận và cả nỗi đah. Chí Phèo đã dần đánh mất đi bản thân, đánh mất đi sự lương thiện. Sau mấy năm ở tù, CHí Phèo về làng, trở thành một con người khác. Nam Cao đã khắc họa rõ từng đường nét trên khuôn mặt của Chí Phèo, như phản ảnh sự đau lòng của chế độ và sự tha hóa của một đời người. Chí Phèo xuất hiện “Cái đầu thì trọc lóc, răng cạo trắng hớn, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Hình ảnh người nông dân hiền lành đã biến mất sau những năm tháng ở tù.

Xã hội đã cướp đi nhân cách, bản tính lương thiện và cả ước muốn làm người của Chí Phèo. Hắn trở về từ nhà tù, biến thành một kẻ chuyên đi rạch mắt ăn vạ, hắn phá tan đi bao nhiêu gia đình ở làng Vũ Đại. Cả làng ai cũng sợ hắn, vì bộ mặt gớm giếc và hành động tàn bạo.

Cuộc sống của một con người thay đổi hoàn toàn, hắn lấy nghề rạch mặt, đâm thuê chém mướn làm nghề sống. Chí Phèo bị người làng xa lánh, hắn trở về làm cho nhà Bá Kiến. Lại một lần nữa người đọc thấy được sự bế tắc, bước đường cùng của Chí Phèo. Hắn lại trở về nơi ngày xưa đã đẩy hắn vào cảnh cơ cực như bây giờ. Có lẽ đây chính là sự bế tắc của người dân thấp cổ bé họng trong xã hội phong kiến.

Nam Cao đã rất thành công khi xây dựng thành công nhân vật CHí Phèo. Đây là hình tượng điển hình cho sự tha hóa trong xã hội phong kiến, là sự bế tắc, cùng đường lạc lối.

Nhưng Nam Cao đã không để cuộc đời Chí Phèo dừng lại ở đó, tác giả đã khơi gợi sự khát thèm yêu thương, khát thèm cuộc sống như một con người nơi hắn. Tình huống truyện Chí Phèo gặp Thị Nở ở vườn chuối sau lần hắn uống rượu say khướt. Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành đã khiến người đọc vẫn cảm thấy còn chút gì đó hi vọng cho một cuộc đời bình dị. Thị Nở xấu xí, thô kệch, nhưng lại là vết sáng trong cuộc đời tăm tối của CHí Phèo. Sự xuất hiện của Chí Phèo thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với Chí Phèo, đánh thức lương tri, đánh thức bản tính lương thiện của hắn. “Bát cháo hành” là một chi tiết nghệ thuật giàu giá trị nhân văn, cho tình người còn lấp lánh giữa xã hội thối nát.

Sau khi gặp gỡ với Thị Nở, hắn thấy cuộc đời ngoài kia thật tốt đẹp, nghe thấy những người đàn bà đi chợ đang nói chuyện. Hơn hết có một chi tiết, một suy nghĩ khiến người đọc chùng xuống “Hắn thấy già yếu, bệnh tật, và cô độc còn đáng sợ hơn cả đau ốm bệnh tật…hắn khát khao làm hòa với mọi người”. Có lẽ đã đến lúc hắn nhận ra cần một cuộc sống như mọi người, không phải rạch mặt ăn vạ nữa. Cuộc sống bình dị ấy nhưng với Chí lại quá xa vời.

Xã hội phong kiến nghiệt ngã, không để cho Chí Phèo được làm người lương thiện khi bà cô của Thị Nở xuất hiện. Bà cô phản đối chuyện Thị Nở và Chí Phèo, còn dùng những từ cay độc để mắng mỏ Chí Phèo. Bà cô là hiện thân của xã hội phong kiến, cự tuyệt khát khao làm người, quyết dồn Chí vào bước đường cùng. Chính điều này đã khiến cho Hắn đau, rơi vào tuyệt vọng và quyết tìm đến nhà Bá Kiến để giết Bá Kiến.

Hình ảnh ám ảnh người đọc là hình ảnh Chí Phèo giãy đành đạch, nằm giữa vũng máu ở sân nhà Bá Kiến. Hắn giết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình. Trước khi chết Chí phèo còn hét lên “Ai cho tao làm người lương thiện”, xã hội này không cho, con người cũng không cho. Đúng là một bi kịch quá đau lòng đối với người nông dân trong xã hội đầy rẫy bất công.

Nam Cao với ngòi bút sâu sắc đã xây dựng nhân vật điển hình trong xã hội diển hình như kéo người đọc về với thời kỳ đau thương của đất nước ta hồi đó. Nghệ thuật đặc tả tính cách, hành động đã khiến cho truyện ngắn thêm sinh động, hấp dẫn.

Đề bài:Nghị luận về giờ Trái Đất

Bài làm

Trái Đất đang ngày càng nóng lên, nhiều hiện tượng như thiên tai, hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường đang đe dọa đến sự sống của con người trên trái đất. Mà nguồn gốc của tất cả những hiện tượng trên chủ yếu do con người, ý thức và hành động của con người đã khiến Trái đất ngày càng biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Giờ Trái Đất chính là hành động kêu gọi mọi người hãy tiết kiệm năng lượng, không được lãng phí.

Ra đời vào năm 2007 tại Astraylia, Giờ Trái đất cho đến nay vẫn được các quốc gia trên thế giới ủng hộ và xem là hành động ý nghĩa, thiết thực nhất để bảo vệ trái đất, bảo vệ chính cuộc sống của mỗi chúng ta.

Lấy tên gọi giờ Trái Đất, chỉ một giờ trong 24h của một ngày trong một năm. Mặc dù rất ít ỏi nhưng nó lại có vai trò và ý nghĩa cực kỳ to lớn đóng góp vào công cuộc bảo vệ Trái đất.

Giờ trái đất diễn ra trong vòng 1 tiếng, yêu cầu các gia đình, cơ quan, tổ chức, xí nghiệp đồng loạt cắt điện trong vòng 1 giờ đồng hồ để tiết kiệm năng lượng điện. Giờ trái đất được diễn vào ngày thứ 7 cuối cùng của tháng ba, kêu gọi mọi người cùng nhau tiết kiệm vì chính cuộc sống của chúng ta sau này,.

Hiện nay trên thế giới các hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thủng tầng ozon, hay chính tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng hiện nay là một trong những biểu hiện cực kỳ rõ nét cho những chuyển biến tiêu cực của Trái Đất. Những biểu hiện này sẽ khiến cho cuộc sống của mỗi người bị đe dọa và đứng bên bờ vực thẳm.

Hằng năm có nhiều nạn thiên tai xảy ra không báo trước, và càng ngày diến ra với mật độ dày đặc. Chính ý thức và hành động của con người đã gián tiếp tác động vào những hệ quả tiêu cực như hiện nay. Mỗi người trong một cộng đồng cần phải có ý thức trách nhiệm để bảo vệ trái đất, chính là việc bảo vệ cuộc sống của mỗi người. Vì trái đất chính là nơi để mỗi người có thể tồn tại và phát triển như hôm nay.

Giờ trái đất hằng năm có một thông điệp riêng nhắn gửi đến mọi người nhưng thông điệp chung chính là kêu gọi mọi người hãy tiết kiệm, hãy chung ta bảo vệ môi trường và bảo vệ cuộc sống của mình.

Chỉ 1 tiếng đồng hồ nhưng chúng ta đã tiết kiệm được rất nhiều năng lượng điện, giúp ích cho trái đất rất nhiều, hạn chế được sự bùng phát không đáng có của nhiều sự cố. Chỉ một tiếng nhưng chúng ta đã có thể khiến cho Trái Đất có thể yên bình, không vết nứt.Chỉ một giờ ngừng sản xuất, ngừng chạy điện chúng ta đã có thể ngăn chặn sự xả thải bừa bãi của các doanh nghiệp và môi trường sẽ trong lành hơn.

Giờ trái đất đối với mỗi quốc gia đều có ý nghĩa rất lớn, cần được tuyên truyền và ủng hộ. Ở nước ta vào thứ 7 của tháng ba cả nước đều hưởng ứng hành động này. Tổ chức rất nhiều chương trình tình nguyện, vui chơi, ca hát thắp nến thay vì thắp đèn điện. Những chương trình này đã thu hút và nhận được nhiều hưởng ứng. Một số ví dụ như trước khi chuẩn bị Giờ trái đất, nhiều tổ chức đã phát động đạp xe để tuyên truyền đến mọi người thông điệp để bảo vệ Trái đất hiện nay như hạn chế sử dụng túi nilon, xả thải đúng nơi quy định, giảm tiếng ồn…

Để có thể thực hiện thành công giờ trái đất thì yêu cầu mỗi người, mỗi cá nhân cần có ý thức chung tay cùng bảo vệ trái đất, xây dựng một trái đất lành mạnh. Chúng ta hãy biến suy nghĩ của mình thành hành động để có thể bảo vệ trái đất. Là những người trẻ, năng động, chủ nhân tương lai của đất nước, ngay từ giờ hãy học cách tiết kiệm, bảo vệ môi trường. Những hành động nhỏ nhưng sẽ góp phần vào công cuộc vảo vệ thế giới bình yên hơn.

Như vậy giờ trái đất đối với mỗi quốc gia có ý nghĩa rất to lớn, quyết định đến sự trường tồn của Trái Đất trong những năm sắp tới.Tuyên truyền, vận động hưởng ứng giờ trái đất là điều mà mỗi chúng ta nên làm.

Đề bài : So sánh tài sắc của chị em Thúy Kiều trong đoạn trích chị em Thúy Kiều

Bài làm

“Truyện Kiều” được xem là một kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du với cách xây dựng nhân vật tài hoa, ngôn ngữ sắc sảo. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” chính là một “bức họa bằng thơ” tuyệt đẹp của Nguyễn Du. Ông đã vẽ lên hình ảnh nhân vật bằng chính ngôn ngữ của mình. Nét bút của Nguyễn Du khiến người đọc tưởng chừng như đang được ngắm nhìn vẻ đẹp và tài sắc của hai chị em Thúy Kiều ở ngay trước mặt.

Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nằm ở đoạn đầu của “Truyện Kiều”. Mở đầu đoạn trích, tác giả đã giới thiệu một cách khái quát, chân thực về hình ảnh chị em Kiều:

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

Rất ngắn gọn nhưng phần nào giúp cho người đọc hình dung ra được nhan sắc cũng như tài năng của hai cô gái xinh đẹp, nghiêng nước nghiêng thành trong một gia đình.

Có một điều khá thú vị ở trong đoạn trích này chính là tác giả đã không miêu tả theo thứ tự chị trước em sau, mà lại miêu tả nhan sắc, tài năng của Thúy Vân trước. Liệu rằng có dụng ý gì ở đây không?

Thúy Vân xuất hiện dưới ngòi bút của Nguyễn Du rất nhân hậu, hiền hòa, cao sang và không kém phần quý phái:

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết ngường màu da

Một nét đẹp đáng ngưỡng mộ, thán phục, vừa phúc hậu, hiền lành, vừa sang trọng, quý phái. Nguyễn Du đã lần lượt miêu tả từng điểm nhấn của Thúy Vân để khắc họa được tính cách và số phận của cô sau này. Hình ảnh “khuôn trăng đầy đặn”, “nét ngài nở nang”, “nước tóc” “màu da” đã như vẽ lên một hình mẫu đẹp tuyệt vời, tưởng như không có gì sánh bằng. Vẻ đẹp của Thúy Vân khiến cho thiên nhiên phải “nhường”, phải “thua”. Có lẽ Nguyễn Du đang ngấm ngầm dự đoán một tương lai hạnh phúc, bình lặng của Thúy Vân sau này.

Sau vẻ đẹp nhã nhặn của cô em Thúy Vân là sắc đẹp của Thúy Kiều, một vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ xã hội phong kiến:

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Hóa ra việc miêu tả tài và sắc của Thúy Vân trước chính là dụng ý của Nguyễn Du, đây như một phép đòn bẩy để tôn thêm vẻ đẹp của cô chị Thúy Kiều. Chỉ một từ ‘càng” người đọc đã tò mò muốn biết cái “hơn” của Thúy Kiều với Thúy Vân ở chỗ nào.

Vén màn ngôn ngữ, người đọc thực sự choáng ngợp trước vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều:

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Thúy Kiều có đôi mắt trong vắt như nước mùa thu dịu êm. Đôi lông mày như nét núi thanh tao của mùa xuân. Vẻ đẹp của Thúy Kiều không khiến thiên nhiên nhún nhường nữa mà phải “ghen” phải “hờn”. Thực sự tạo hóa đã cho Thúy kiều một vẻ đẹp sắc sảo như vậy, lại khiến thiên nhiên oán hận thì có lẽ cuộc đời về sau của nàng sẽ không mấy yên ổn, đầy sóng gió.

Nguyễn Du không nhắc đến tài năng của Thúy Vân nhưng ông lại viết khá sâu về tài năng của Thúy Kiều:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ ầm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương

Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân”

Thúy Kiều không chỉ là một người con gái đẹp “quốc sắc thiên hương” mà còn là người có tài năng hiếm thấy.Một vẻ đẹp hoàn mỹ, mười phân vẹn mười. Nhưng bên trong người con gái đẹp, đa tài như vậy lại ẩn chứa một cuộc đời nhiều u sầu, khổ ải còn chờ đợi ở phía trước. Người ta vẫn nói “hồng nhan bạc mệnh”, có lẽ điều này đúng với Thúy Kiều. Nguyễn Du đã dự báo cho người đọc về một tương lai nổi trôi, long đong của kiếp tài hoa.

Ở đoạn cuối, Nguyễn Du một lần nữa nhắc đến hoàn cảnh, xuất thân và tuổi tác của hai chị em:

Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

Hai người con gái đang đến tuổi “cặp kê’, được sinh ra trong gia đình gia giáo, có phép tắc.

Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, người đọc nhận ra tài năng “di chuyển” ngôn ngữ của Nguyễn Du rất mực tài tình. Ông chỉ chỉ có tài làm thơ mà còn có tài “vé tranh bằng thơ” tinh tế, điêu luyện. Đây chính là điều người đời vẫn ngưỡng mộ ông. Cũng qua đoạn trích này, vẻ đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều khiến người ta ngưỡng mộ, thán phục.

Đề bài: Phân tích cái tôi trữ tình của tác giả trong bài thơ Tràng giang

Bài làm

Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trảo Thơ mới với cái “tôi” trữ tình độc đáo, không lẫn lộn với bất kỳ tác giả nào. Thơ của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám với nồi buỗn sầu mênh mang, ẩn chứa những tâm sự thầm kín với đời, và với đất nước. Bài thơ “Tràng giang” là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách đó và phần nào lột tả được cái tôi trữ tình Huy Cận.

“Tràng giang” là bài thơ được lấy cảm hứng từ một dòng sông, với điểm nhìn mới mẻ, tác giả đã gửi gắm vào đó những tâm sự không phải ai cũng thể hiểu. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã hé lộ cho người đọc về cái “tôi” u buồn, mang nỗi sầu nhân thế của tác giả. Dường như hình ảnh con sông dài mênh mang và bầu trời cao rộng vô biên đã khiến tác giả thấy mình trở nên nhỏ bé và hiu quạnh. Người đọc bắt đầu thấm thía cái tình, cái tôi riêng biệt của Huy cận khi nghĩ về người, về đời.

Giọng văn buồn man mác với khung cảnh thiên nhiên u ám, đẹp nhưng buồn, một nỗi buồn không tên đã càng khiến cho Huy Cận thấy mình lạc lõng, chơi vơi:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Một bức tranh thiên nhiên đẹp, có cảnh sông nước mênh mang, có con thuyền nói xuôi mái rất thi vị nhưng “củi một cành khô” lạc vào câu thơ khiến cho nó trở nên buồn man mác. Phải có một cái nhìn tinh tế và tấm lòng đa sầu, đa cảm khiến cho Huy cận thấy mình dường như bị nuốt chửng giữa thiên nhiên rộng lớn, mệnh mông như thế. Cái “tôi” Huy Cận trở nên chơi vơi, lạc lõng và nôi trôi không phương hướng.

Chắc hẳn người đọc sẽ nhận ra được tâm sự của Huy Cận đằng sau những con chữ. Đó là một nỗi niềm thương cảm và xót xa cho chính cuộc đời của mình.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Ở khổ thơ này thì bóng dang và âm thành của con người và cuộc sống đã bắt đầu xuất hiện nhưng dường như nó còn rất mờ nhạt, chỉ là một chấm nhỏ bé xíu giữa cuộc sống chỉ toàn nỗi buồn phiền như thế này. Những hình ảnh ‘cồn nhỏ”, “chợ chiều”, “sông dài” như cứa sâu vào tâm hồn nhiều xúc cảm của tác giả những dư vị nhạt nhẽo của cuộc sống. Huy Cận buồn, một nỗi buồn gửi gắm vào thiên nhiên, đất trời. Nỗi buồn ấy như tan ra, quyện chặt lấy tâm hồn đang cần được chở che của tác giả.

Ông cô độc trong chính cuộc sống của mình, thiên nhiên bao trùm lên là một nỗi buồn không biết san sẻ cùng ai. Đây chính là một sự cảm nhận khác biệt của Huy Cận về thiên nhiên, tiêu biểu cho phong cách thơ ông trước cách mạng tháng Tám.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng’

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Hình ảnh những cánh bèo nổi trôi vô định trên dòng sông dường như khiến cho tâm hồn tác giả thêm buồn mênh mông. Huy Cận khát khao được yêu thương, được bao bọc nhưng thiên nhiên hờ hững, lòng người lạnh nhạt khiến chính nhà thơ rơi vào bế tắc.\

Khổ cuối cùng của bài thơ dường như đẩy lên đỉnh điểm cái “tôi” nhân vật rất đặc trưng của Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Tâm sự nhớ nước, thương nhà thầm kín khiến cho chính bản thân tác giả rơi vào bế tắc và hoang mang. Người đọc tưởng tưởng được khung cảnh “chiều sa” ở đây chới với đến não nề. Tâm sự và tình cảm không biết gửi gắm cùng ai, chỉ thấy buồn và sầu mênh mông.

Huy Cận với tấm lòng đa sầu đa cảm gửi gắm trong những vẫn thờ buồn khiến cho chính mình hụt hẫng, chới với. Nỗi buồn đan tiếp nỗi buồn, hòa vào thiên nhiên đất trời dư vị cuộc sống buồn và nhạt.

Như vậy cái tôi trữ tình của Huy cận trong bài thơ “tràng giang” khiến người đọc thổn thức và đồng cảm

Đề bài:Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử 

Bài làm

Hàn Mạc Tử được biết đến là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh liệt với phong cách “điên”, có đôi khi là vượt ra khỏi thế giới hiện thực, tràn ngập mộng mị. Tuy nhiên sáng tác của ông vẫn có những vần thơ về thiên nhiên mượt mà, đẹp tươi như rọi vào lòng người đọc xúc cảm mới. Bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, thiên nhiên xứ Huế mộng mơ. Bức tranh ấy neo đậu trong lòng nhà thơ và neo lại trong lòng người đọc nhiều dư âm.

“Đây thôn Vỹ Dạ” là bài thơ được ghi sau một bức ảnh được gửi từ người con gái xứ Huế. Khi ấy Hàn Mạc Tử đang ở Quy Nhơn dưỡng bệnh. Nỗi nhớ mong, hoài niệm về con người và thiên nhiên xứ Huế, Hàn Mạc Tử đã viết bài thơ tuyệt đẹp này.

Thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” dường như cũng mang nhiều gam màu, nhiều cung bậc lẫn lộn trong chính cảm xúc của nhà thơ.

Mở đầu bài thơ là lời trách móc nhẹ nhàng, tình tứ người “khách xa” sao lâu nay không về Huế chơi:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Tứ thơ thật đẹp, thật tinh tế và ẩn chứa nội dung sâu xa. Nỗi nhớ về Huế được tác giả gửi gắm qua lời trách yêu nhẹ nhàng này. Hàn Mạc Tử đã dẫn dụ người đọc khám phá một bức tranh xứ Huế nhiều nét đẹp riêng.

Sau lời trách móc ấy, một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống hiện ra:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọ

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bức tranh thiên nhiên xứ Huế vào buổi sáng ban mai tinh khôi, trong lành. Ánh nắng đầu ngày luôn tinh khô, tràn đầy sức sống nhất. Dường như ánh nắng đang lên cao trên những hàng cau dài thẳng tắp. Từ “nắng” được lặp lại hai lần như nhấn mạnh bầu không khí trong lành nhất ở xứ Huế mộng và thơ. Một khu vườn hiện lên thật xinh xắn và tươi đẹp. “Vườn ai” phiếm chỉ một địa danh cụ thể nào đó nhưng tác giả ẩn ý không nói ra. Màu xanh “như ngọc” của khu vườn khiến cho bức tranh bừng lên sức sống. Không phải xanh non, xanh rì mà là “xanh mướt”. Từ “mướt” làm mềm cả câu thơ và khiến cho khung cảnh trở nên hiền dịu và nên thơ hơn.

Đến câu thơ cuối dường như hình ảnh con người mới xuất hiện. Mặt chữ điền là khuôn mặt phú hậu, hiền lành của người con trái. Cây trúc biểu tượng cho chí trí nam chi. Có lẽ có “khách đường xa” nào đã ghé thăm xứ Huế, nhưng chỉ là ghé thăm một cách thầm lặng như vậy.

Qua ngôn ngữ điêu luyện, giọng văn nhẹ nhàng, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên xứ Huế nên thơ nhất.

Tuy nhiên sang đến khổ thơ thứ hai thì dường như bức tranh thiên nhiên ở đây đã bắt đầu chuyển màu:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa  bắp lay

Có một sự chia ly, tan vỡ ở trong hai câu thơ. Mây và gió vốn chung đường nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại chia lìa đôi ngả. Hình ảnh hoa bắp ven bờ sông hương lay nhẹ rơi rụng xuống mặt nước khiến người đọc liên tưởng đến sự nổi trôi, bấp bênh của một đời người. Thiên nhiên ở đây vẫn đẹp, nhưng đẹp mang nỗi buồn mênh mang và sâu thẳm.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Xứ Huế với một đêm nên thơ, tràn ngập ánh trăng nhưng dường như tác giả đang thấp thỏm, lo âu điều gì đó. Từ “kịp” khiến cho mạch thơ vỡ ra, vội vàng và gấp gáp hơn. Tác giả đang hỏi ai hay hỏi chính bản thân mình

Và đến khổ thơ cuối thì dường như thiên nhiên đã chuyển sang gam màu khác, mờ ảo, huyền diệu hơn:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ai biết tình ai có đậm đà

Một đêm trăng mờ ảo, sông nước mênh mông khiến tác giả có cảm giác như mọi thứ đang ở trong cõi hư không. Màu trắng bao trùm lấy khổ thơ cuối. Sự mộng mị của cảnh sông nước khiến cho tác giả thấy mình chới với, không có điểm tựa. Câu hỏi cuối cùng của bài thơ là một câu hỏi da diết và day dứt, nó như một điệp âm cứ thổn thức mãi trong lòng tác giả.

Bức tranh thiên nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư không, mờ ảo dần. Tuy nhiên người đọc vẫn nhận ra được sức sống tràn trề, nét đẹp tinh khôi của một bức tranh thiên nhiên ở Huế.

“Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh về xứ Huế vừa tươi đẹp, vừa mộng mơ, vừa huyền ảo khiến người đọc có cảm giác như đang lạc vào chốn bồng lai tiên cản

Đề bài:Phân tích bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mạc Tử 

Bài làm

Hàn Mạc Tư là nhà thơ tài hoa của dòng văn học lãng mạn. Thơ ông mang nhiều màu sắc đan xen nhau tạo nên một nét riêng độc đáo. Có những vần thơ nhẹ nhàng, tinh khiết, đẹp tuyệt vời nhưng có những bài thơ mơ hồ, mờ ảo, “điên điên”. Người ta bảo như thế mới là Hàn Mạc Tử. “Đây thôn Vỹ Dạ” là bài thơ hay tính yêu,  về những trong trẻo, mát lành nhất của thiên nhiên.

Bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” như là bức thư là tác giả gửi một cô gái mang tên Kim Cúc, là tiếng lòng, là lời mời của anh chàng thi sĩ. Bài thơ được sáng tác trong thời gian Hàn Mạc Tử đang bệnh nặng, nên nỗi buồn dường như còn phảng phất trong từng câu chữ.

Mở đầu bài thơ dường như là lời trách móc nhẹ nhàng, tình tứ:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

“Sao anh không về chơi” khiến người đọc liên tưởng đến thần sắc của cô gái khi trách yêu chàng trai lâu lắm rồi không ghé về thôn Vỹ mộng mơ, nên thơ chơi. Thôn Vỹ nằm cạnh bờ sông Hương là địa danh đẹp của Huế với khung cảnh trời nước mênh mông. Một lời trách nhưng thoảng chút vui tươi và chờ đợi.

Bức tranh của thôn Vỹ dần dần hiện lên qua ngòi bút tinh tế của tác giả. Ánh nắng buổi sáng mai tinh khiết, nhẹ nhàng làm cho không gian ở vùng quê trở nên lung linh, dịu nhẹ biết bao. Không gian như cao và xanh hơn nhờ anh nắng ban mai nơ đất Huế. “Vườn ai” dường như ám chỉ một khu vườn nhà ‘ai” đó mà chỉ “ai” mới biết. Thật tinh tế, kín đáo mà sâu sắc. Ngôn từ được Hàn Mạc Tử sử dụng rất đẹp, rất mềm. Màu xanh của khu vườn không phải xanh thắm, xanh nõn mà là “xanh như ngọc”. Trong trẻo, mát lành và tràn đầy sức sống.

Giữa khung cảnh thiên nhiên nên thơ, trữ tình, tinh khôi đó có thấp thoáng bóng dáng con người. Nhưng vẫn có một sự bí ẩn nào sau gương mặt đó. Cây trúc thường biểu tượng cho người quân tử, và gương mặt chữ điền là mặt phúc hậu, tròn đầy. Có lẽ có một vị khách bí ẩn nào đó đã ghé thăm thôn Vỹ mà “ai” không hay biết.

Nhưng bỗng nhiên đến khổ thơ thứ hao, giọng thơ lạc đi, chùng xuống:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay.

Vốn dĩ mây và gió luôn chung  đường với nhau nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại là “gió theo lối gió, mây đường mây”. Có một sự chia lìa đến não nề và đau lòng. Hình ảnh “hoa bắp lay” nhẹ nhàng và rơi rụng xuống dòng sông khiến cho người đọc có cảm giác có cái gì đó đang vỡ tan ra. Nỗi buồn ở đây thật khác, mang dư vị riêng, là “buồn thiu”, buồn đến não nề, tê buốt. Tác giả đã mượn hình ảnh thiên nhiên để nói đến tình cảnh của mình hiện tại.

Thuyền và trăng luôn là những hình ảnh gần gũi đối với thơ ca. Hàn Mạc Tử đã mượn hình ảnh thuyền và trăng để nói lên tình cảm, nỗi lòng của mình. Đọc đến đây, người đọc dường như cảm nhận ra một điều gì đó mơ hồ, kì aaos. Đó chính là đặc trưng của thơ Hàn Mạc Tử. Không phải là con sông bình thường mà là “sông trăng” thật nên thơ, kì ảo, huyền diệu. Có lẽ đây là một đêm trăng đẹp, đêm trăng tròn đầy và viên mãn nhất. Câu hỏi tu từ cuối khổ thơ nhưng không ai trả lời. Một từ “kịp” khiến cho câu thơ trở nên hối hả và gấp gáp hơn. “Kịp” trở về để làm gì? Kịp yêu kịp thương kịp chờ sao.

Khổ thơ cuối thì màu sắc kì ảo đã bao trùm, nhưng sự kì ảo trong sự cho phép của thơ ca:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

Có lẽ vì nỗi nhớ quá lớn, quá đầy nên hình ảnh “khách đường xa” đã lạc bước vào giấc mơ. Vừa gần nhưng cũng vừa thật xa, không thể chạm đến được. Đó cũng chính là sự mong ngóng, đợi chờ mòn mỏi của tác giả cho một mối tình. Khổ thơ cuối với gam màu trắng chủ đạo đã càng tăng thêm tính mơ hồ, kì ảo của bài thơ.

Tác giả băn khoăn không biết mối tình của mình và cô gái xứ Huế sẽ đi đến đâu, liệu rằng Tình người ta có còn đậm đà, chân thành như lời hứa nữa không. Có cảm giác như câu thơ tan ra, lênh láng cả một vùng sông trăng huyền ảo

Bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử là một bài thơ hay, có sức chưa lớn. Một bức tranh thiên nhiên xứ Huế mộng mơ và một tấm chân tình sâu nặng.

Đề bài: Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến

Bài làm

Mùa thu luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt cảm xúc đối với thi sĩ. Một Nguyễn Đình Thi phơi phới, rộn ràng, vui tươi trong “Đây mùa thu tới”, một Hữu Thỉnh tinh tế, nhẹ nhàng trong “Sang thu”…Chắc hẳn Nguyễn Khuyến sẽ là nhà thơ để lại cho người đọc cảm nhận độc đáo mà gần gũi nhất qua chùm thơ thu “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm”. Trong đó bài thơ “Thu điếu” là bài thơ gần gũi, bình dị nhất khi tác giả lột tả được vẻ đẹp yên bình ở vùng quê Bắc Bộ.

Với ngôn từ giản dị và cái nhìn tinh tế, Nguyễn Khuyến đã thổi linh hồn vào mùa thu, cảnh thu, sắc thu và khí thu. Một bức tranh thu nơi làng quê thanh bình, yên ả.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc cần câu bé tẻo teo

Một không gian thu hẹp nhưng dường như mùa thu đang bao trùm lấy. Tác giả cảm nhận rõ rệt nhất mùa thu ở nước mùa thu. Màu nước “trong veo” phảng phất u buồn và lạnh lẽ. Có lẽ đó chính là đặc trưng của mùa thu xứ Bắc, hiếm có nơi nào có được. Hình ảnh “chiếc cần câu” nhỏ bé, một mình giữa ao hẹp càng thu hẹp không gian hơn. Cụm từ “bé tẻo teo” phần nào đã lột tả được sự hữu hạn của không gian. Sự hòa hợp giữa cảnh vật khi thu về hết sức bình lặng.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tý

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Sự trầm tĩnh, yên lặng ở hai câu thơ đầu tiên đã không còn nữa. Đến hai câu thơ này có lẽ đường nét và âm thanh của mùa thu đang len lỏi vào phá vỡ sự thanh tĩnh của không gian. Sự chuyển động tinh vi, nhẹ nhàng của sóng lăn tăn nơi mặt hồ đánh dấu sự chuyển động của mùa thu. Lá vàng là hình ảnh đặc trưng của mùa thu. Từ “vèo” ở cuối câu thơ có ý chỉ tốc độ nhanh, thoáng qua, không kịp nắm bắt.

Bức tranh mùa thu với không gian hẹp nơi vùng quê bắc bộ và sự chuyển động tinh tế nhẹ nhàng có lẽ đã làm xiêu lòng tác giả.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tác giả đã bắt đầu mở rộng không gian thu, không còn thu hẹp của cái ao thu lạnh lẽo nữa mà đã lan tỏa lên đến tận trời cao, có mâu “lơ lửng” trôi. Nét thu chấm phá lên nền trời một màu xanh ngắt đặc trưng khiến cho lòng người khó cưỡng lại. Mùa thu có chút gì đó ảm đạm và vắng vẻ. Những con đường làng nhỏ, quanh co không bóng người. “Khách vắng teo” với cách gieo vần “eo” càng gợi tả sự trầm tĩnh đến cùng cực. Bóng dáng của con người cũng không thấy. Một sự tĩnh lặng khiến cho tác giả trầm ngâm.

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Đến hai câu thơ cuối thì thực sự đã hiển hiện lên “chủ nhân” của chiếc cẩn câu bé tẻo teo ở hai câu thơ đầu tiên. Mọi thứ đều tĩnh lặng, mùa thu cũng tĩnh lặng khiến tác giả cảm thấy mình đơn độc, lạc nhịp. Tư thế “tựa gối” như đang tự thu nhỏ mình lại để phù hợp với không gian mùa thu bé nhỏ, chật hẹp ở một vùng quê vắng vẻ.

Bỗng nhiên từ “đớp” ở cuối câu thơ dường như làm náo động cả bài thơ. Đây chính là thủ pháp lấy động tả tĩnh cực kỳ đắc điệu của nhà thơ. Hình ảnh “cá đớp” ấy khiến cho tác giả giật mình khi đang chìm đắm trong cảnh sắc mùa thu u buồn, nó đã đánh thức suy nghĩ, đánh thức thực tại. Cá đớp có lẽ là một hình ảnh ẩn dụ cho những biến động của xã hội thời bấy giờ, dân tình loạn lạc, đất nước lầm than. Qua đây người đọc có thể thấu hiểu được nỗi lòng của tác giả đối với dân với nước nhưng bất lực, không biết bày tỏ cùng ai.

Bài thơ “Thu điếu” thực sự là một kiệt tác về mùa thu. Ông đá vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh mùa thu xứ Bắc tuyệt đẹp và ẩn sau đó chính là nỗi niềm tâm sự với dân với nước.

Đề bài:Phân tích bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Bài làm

“Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh là tập thơ ghi lại cảm xúc trong chuỗi ngày bị giam hãm ở nhà lao Trung Quốc. Đọc thơ của Hồ Chí Minh, người đọc nhận ra những dòng cảm xúc rất bình dị, đời thường. “Mộ” là một bài thơ như vậy, tái diễn lại một khoảnh khắc khi sắp kết thúc một ngày, là chiều tối.

Bài thơ “Mộ” ghi lại khoảnh khắc mà Hồ Chí Minh đi từ nhà lao Thiên Bảo đến Long Tuyền vào năm 1942. Cảm hứng chủ đạo chính là bức tranh và phông nền của thiên nhiên lúc về chiều, khi hoàng hôn sắp buông xuống. Phải thật tinh tế, sâu sắc, Hồ Chí Minh mới có thể diễn tả một cách đắc điệu nhịp sống nhẹ nhàng nơi núi rừng như vậy.

Nguyên tác của bài thơ như sau:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mụn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

 Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Hai câu thơ đầu như một nét vẽ chấm phá tạo khiến cho cảnh bầu trời về chiều hiện lên rõ nét và mang một nỗi buồn man mác:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Tầng mây trôi nhẹ giữa tầng không

Nỗi buồn như loang nhẹ, lan ra cả hai câu thơ khiến cho giọng thơ trở nên chùng xuống và tâm sự của tác giả dường như đẩy lên cao. Cánh chim khi chiều tà cũng trở nên “mỏi” đi tìm chốn ngủ. Một cánh chim đơn lẻ, đi lạc giữa rộng dài của bầu trời khiến người đọc có cảm giác như Hồ Chí Minh đang liên tưởng đến cuộc sống của người hiện tại. Cảnh tù đày bí bách, kìm hãm khiến Hồ Chí Minh khát khao có được một nơi chốn bình yên và ấm áp nhất để tìm về.

Hình ảnh “tầng mây trôi nhẹ” diễn tả sự vận động nhẹ nhàng, tinh tế của thiên nhiên đất trời. Nhịp thơ trở nên chậm, rất chậm và có lẽ lòng người cũng đang chậm.

Chỉ với hai câu thơ cũng đủ để cho người đọc nhận ra được khát khao muốn được như tầng mây đó, cứ trôi đi, không phụ thuộc, không phải chịu cảnh gông tù.

Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh luôn hiện lên nhẹ nhàng nhưng chất chứa nỗi niềm như vậy.

Đến hai câu thơ sau dường như bừng lên một tia sáng và thấy thấp thoáng bóng dáng con người:

Cô em xóm núi xây ngôi tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Mặc dù phần dịch thơ không thực sự bám sát và lột tả hết được tâm trạng cũng như con người trong bức tranh mang màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại này.

Chỉ bằng một nét vẽ tinh tế tác giả đã vẽ lên bức tranh bình dị của cuộc sống người dân nơi chân núi. Hành động “xay ngô” dường như là việc làm thường ngày của con người ở đây. Tuy bình dị nhưng ấm áp và tràn đầy tin yêu. Có thể nói trong cảnh gông cùm như thế này, Hồ Chí Minh rất khao khát có được một nơi để trở về bình dị như thế này.

Đến câu thơ cuối, người đọc nhận ra một sự chuyển động rất nhẹ và một nét sáng bừng lên cả bài thơ. Khi cô gái vùng sơn cước xay hết ngô thì lò than đã rực hồng. Một sự chuyển tiếp nhẹ nhàng, đều đặn hằng ngày. Giữa vùng núi hoang lạnh, khi mặt trời tắt, hoàng hôn loang xuống hình ảnh “lò than” hiện lên dường như làm sáng cả không gian và ấm áp trái tim Người. Có thể nói việc xây dựng hình ảnh cô em xóm núi và lò than dường như là một nỗi niềm thầm kín của tác giá. Đó là hiện thân của một mái ấm gia đình, hạnh phúc, chứa chan yêu thương, và đó cũng chính là lòng mong mỏi của Hồ Chí Minh.

Bài thơ “Mộ” của Hồ Chí Minh là bài thơ vừa mang màu sắc cổ điển vừa mang màu sắc hiện đại đã mang đến dấu ấn riêng, đặc trưng. Bài thơ chính là tâm sự, là ước muốn nhỏ nhoi có thể thoát khỏi chốn gông cùm, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Đề bài:Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Bài làm

Tố Hữu là ngọn cờ đầu của phong trào thơ cách mạng Việt Nam với những tác phẩm tự sự nhưng dạt dào tình cảm. “Từ ấy” là bài thơ rút trong tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938, đánh dấu sự trưởng thành của người thanh niên cách mạng. Bài thơ chính là tiếng reo vui của tác giả khi được đứng trong hàng ngũ đảng cộng sản Việt Nam.

“Từ ấy” là một từ chỉ thời gian đánh dấu bước ngoặc có ý nghĩa lớn trong cuộc đời của người thanh niên cách mạng, đánh dấu sự trưởng thành, lớn lên về tâm hồn cũng như lý tưởng cách mạng. Giây phút ấy khiến cho tác giả nghẹn ngào, dường như không nói được nên lời, chỉ có thể dồn trong hai từ “từ ấy”. Từ ấy chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, là tiếng lòng reo vui, rộn rã, tràn ngập tin yêu của một người thanh niên khi được đứng trong hàng ngũ cao quý của Đảng. Sau thời gian xác định “từ ấy” chắc chắn người thanh niên đó sẽ có những chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc đời cũng như trong con đường hoạt động cách mạng của mình.

Tác giả đã mở đầu bằng một lời thơ rộn rang, tràn ngập tin yêu:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Tác giả vui mừng không nói nên lời, chỉ biết ngập ngừng “từ ấy”, và sau thời gian “từ ấy” đó chính là những bước ngoặc cũng như sự giác ngộ lý tưởng lớn. Một loạt hình ảnh ẩn dụ “bừng nắng hạ”, “mặt trời chân lý” đều mang trong mình ý nghĩa biểu tượng cho những gì tươi sáng, tốt đẹp, rạng ngời nhất. Từ “bừng” ở câu thơ đầu tiên như làm sáng lên cả bài thơ, từ bừng mang ý nghĩa là thức tỉnh, một sự thức tỉnh có quá trình. Nắng hạ là thứ nắng chói chang, nắng đẹp, tràn ngập niềm vui và sức sống. Tác giả như bước ra, thoát khỏi chốn tăm tối, bế tắc, không lối thoát của cuộc đời để đến với ánh sáng của cách mạng và niềm tin. Giây phút được bước vào hàng ngũ của đảng như là “chân lý”, điều đáng trân trọng một đời.

Sự chuyển biến rõ nhất diễn ra trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Sự thức tính và giác ngộ cách mạng khiến tâm hồn của người chiến sĩ trẻ như một vườn hoa tràn ngập tiếng chim và rực rỡ sắc hoa. Phép so sánh ấy thực sự rất tài tình và đầy ý nghĩa. Một tâm hồn thực sự sinh động, tràn đầy sức sống, tác giả đã biến cuộc đời mình tràn ngập niềm tin và tự hào. Chỉ với khổ thơ đầu này nhưng dường như cả bài thơ đã được vẽ lên bằng một gam màu tươi sáng và đẹp đẽ nhất.

Sự giác ngộ trong lý tưởng cách mạng đó đã hình thành nên tư tưởng lớn trong tâm hồn:

Tôi buộc lòng tôi với mọi nhà

Để tình trang trải đến trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm vạn khối đời

Một khổ thơ vừa  bộc lộ rõ nét cái tôi cá nhân vừa bộc lộ cái ta rộng lớn, bao la nhất. Từ “buộc” ở câu thơ đầu tiên gợi lên cảm giác gắn bó đối với người chiến sĩ cách mạng với mọi người. Từ “buộc” chính là sợi dây, là con đường, là lẽ sống mà người chiến sĩ đã lựa chọn và theo đuổi dến cùng. Với một tấm lòng kiên trung, tình yêu thương rộng lớn, người chiến sĩ muốn mang đến sự bình an, ấm no nhất cho nhân dân, để có thể cùng nhân dân gánh bớt nỗi khổ, cực nhọc.

Từ chân lý muốn được bao bọc, chở che, gắn bó với mọi nhà, ở khổ thơ cuối chính là lời khẳng định vị thế của mình:

Tôi là con của vạn nhà

Là anh của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm cù bất cù bơ

Khổ thơ mang ý nghĩa liệt kê nhưng nó vẫn toát lên được tình cảm, sự tin yêu và gắn  bó của người chiến sỹ đối với toàn thể nhân dân.Từ “là” được lặp đi lặp lại nhằm nhấn mạnh mối quan hệ hiên nhiên giữa mình với nhân dân, gắn bó với họ, cùng san sẻ, cùng gánh vác khổ đau, đương đầu với sóng gió, quyết không để lùi bước. Tinh thần ấy của tác giả thực sự đáng ngưỡng mộ và khâm phục. Tác giả coi mình cũng như một người vô danh “cù bất cù bơ” nhưng có tinh thần đoàn kết và kiên trung

Quả vậy, “Từ ấy” là bài thơ ý nghĩa đánh dấu sự trưởng thành của một con người và của một chặng đường cách mạng gian nan. Tiếng reo vui của tác giả như hòa chúng vào với niềm vui chung của nhân dân.

Bài làm:Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù 

Bài làm

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam. Nghiệp sáng tác của ông chia thành hai giai đoạn trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Trước cách mạng, ngòi bút của ông thiên về phương châm “Vang bóng một thời-trụy lạc-xê dịch”. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là tác phẩm kiệt xuất trước cách mạng tháng Tám, đã khắc họa thành công hình ảnh Huấn Cao, một kẻ sĩ tài hoa, có tấm lòng thẳng thắn.

Huấn Cao là một kẻ sĩ xả thân vì đại nghĩa, lên án và tố cáo sự trắng trợn của triều đình, ông bất chấp tất cả để chống lại triều đình mục nát, thối rữa. Huấn Cao trong mắt của bọn lính là một kẻ “ngạo ngược và nguy hiểm nhất”, nên đề phòng. Đối với thầy thơ thì ông “văn võ đều có tài cả, chà chà” còn đối với người quàn ngục thì Huấn Cao là người “chọc trời quấy nước”, coi thường tiền bạc và bạo lực. Với những cách nhìn ấy, Huấn Cao là một người tài ba trong mắt của mọi người, là một kẻ tù nhưng lại có tấm lòng kiên trung, toát lên sự thanh cao giữa chốn xiềng xích nhơ bẩn.

Bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã vẽ lên hình ảnh Huấn Cao bộc trực, đầy hào khí, từng đường nét đều rất thoát phàm, rất độc đáo. Là một kẻ tù nhưng Huấn Cao dường như chẳng sợ trời, chẳng sợ đất, ông có thể thét lên với bất cứ ai. Không cần hành động nhưng khí phách của ông lại khiến cho mọi người nể phục.

Huấn Cao giữa chốn lao tù này còn được biết đến là kẻ sĩ tài hoa, người đời mến mộ bằng cái tên “cái người mà vùng tỉnh Sơn đã khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp..” Những kẻ sĩ có chữ đẹp luôn được sung bái và ngưỡng mộ như vậy. CHữ của ông như “một báu vật trên đời”, ai có diễm phúc sở hữu chữ của ông chính là sở hữu một vật báu trong thiên hạ. Huấn Cao không biết ông quản ngục luôn có một ước mong được sở hữu chữa Huấn Cao, được treo chữ của ông viết ở trong nhà, chữ ông Huấn Caop đẹp và vuông lắm. Một con người tài đức vẹn toàn, một con người không chỉ tài hoa mà còn có cái tâm rất trong sáng và ngay thằng. Kỳ thực ông viết chữ đẹp nhưng chưa bao giờ “ép mình viết bao giờ” Đấy là cốt cách thực sự đáng quý. Ông chỉ viết cho những người thực sự xứng đáng, những người có thể khiến ông ngưỡng mộ và khâm phục nhất.

Nguyễn Tuân thực sự rất tài, tài đến nối đọc từng câu từng chữ của ông người ta cứ ngỡ như ông đang vẽ nên một bức họa thật sinh động giữa chốn nhân gian về một kẻ sĩ đáng trọng như Huấn Cao.

Huấn Cao còn là một người trân trọng tìn bạn, mến mộ những con người có “chí nhớn” trong thiên hạ. Qua lời kể của viên thơ lại, ông đã biết được tấm lòng của viên quản ngục và ngưỡng mợ trước tấm chân tình cũng như sự yêu mến và khát khao có được chữ của ông. Ông xúc động nhận ra được con người có thú vui thanh tao giữa chốn gong cùm nhơ bẩn này “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta biết đâu một người như thầy quản mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Chỉ một cụm từ “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”, Huấn Cao đã khiến cho người đọc không thể nén được cảm xúc. Một con người biết trân trọng cái đẹp, hướng về cái đẹp, đó là một lối sống hướng đến vẻ đẹp “Chân-Thiện-Mỹ”.

Hình ảnh cảnh cho chữ hiện lên ở cuối tác phẩm dường như là cảnh tượng khó quên nhất trong tác phẩm. Một cảnh tưởng khiến cho người đọc nhớ mãi. Cảnh cho chữ diễn ra không phải ở một nơi thanh cao mà lại diễn ra giữa chốn ngục tù, là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Hình ảnh ba con người hiện lên trong cảnh tượng ấy thật đẹp, thật lung linh, họ không còn là người tù, viên quản ngục nữa mà là những người yêu cái đẹp, tâm đắc với cái đẹp. Cảnh cho chữ ấy thật thiêng liêng và xúc động, sự gặp gỡ quá muộn màng giữa những con người yêu cái đẹp, yêu cái vẻ đẹp hoàn thiện nhất. Hình ảnh Huấn Cao vương xiềng xích, tung bút viết những chữ vuông vắn nhất thực sự là hình ảnh đẹp nhất, đáng ngưỡng mộ và khâm phục nhất. Hình ảnh viên quản ngục “vái lạy” Huấn Cao và Huấn Cao đỡ viên quản ngục dây thực sự là hình ảnh ám ánh khi gấp trang sách lại. Thời khắc mong manh giữa sự sống và cái chết khiến cho người kẻ sĩ ấy thêm kì vĩ, lấp lánh hơn. Kẻ tử tù không thể có cốt cách như vậy, chỉ có anh hùng mới xứng đáng với cốt cách ấy. Và Huấn Cao là môt đấng anh hùng như vậy.

Huấn Cao hiện lên rõ nét, oai phong, đĩnh đạc qua từng nét bút của Nguyễn Tuân thực sự khiến cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang viết. Huấn Cao là biểu tượng của cái đẹp vĩnh cửu, của những gì hoàn hảo và kiên trung nhất. Một con người “khó kiếm” trong thiên hạ.

Thực vậy, gấp trang sách lại nhưng hình ảnh Huấn Cao vẫn hiện hiển trong trí óc của người đọc. Ông là hình ảnh tiêu biểu cho những anh hùng hiên ngang bất khuất giữa chốn nhơ bẩn, bất công của thời đại

Đề bài:Bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu

Bài làm

Xuân Diệu được xem là “Ông hoàng thơ tình” Việt Nam với những sáng tác đượm chữ tình, chữ nhớ, chữ thương. Đọc thơ Xuân Diệu người ta nhận ra một nỗi buồn lan nhẹ, một nỗi sầu mênh mang nhưng chất chứa tình yêu với vạn với, với con người. Thơ Xuân Diệu có nét buồn nhân thế, vì đó là cảm hứng chung của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới, nhưng cái buồn của ông cũng có nét riêng khác biệt. “Đây mùa thu tới” là một bài thơ thu nhẹ nhàng và sâu lắng như vậy.

Kỳ thực mùa thu không phải là đề tài mới mẻ nhưng trong thơ của Xuân Diệu thì nó luôn mới luôn biến đổi theo mạch cảm xúc. Tác giả đã mở đầu bằng một hình ảnh buồn, đầy tang thương:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông lệ xuống ngàn hàng

Nàng thu của Xuân Diệu có một sự chuyển động rất nhẹ, tinh tế, cứ ngỡ như chỉ cần một động thái nhỏ sẽ làm mùa thu ấy tan ra. Hình ảnh cây liễu không hiếm trong những vần thơ với sự yếu ớt, mỏng manh, e lệ; nhưng trong thơ Xuân Diệu nó lại mang một nỗi buồn sầu thương, cô đơn hơn nữa. Liễu “đứng chịu tang” là một ý nghĩ táo bạo của Xuân Diệu. Một sự liên tưởng thật nhạy bén và sâu sắc. Đúng vậy mùa thu luôn buồn, buồn man mác, buồn bâng khuâng, buồn đến “đìu hiu”. Từ láy này đã gợi tả hết cái thần thái của mùa thu. Cành cây liễu buông thõng xuống mặt hồ mà tác giả cứ ngỡ đang chảy “lệ”. Có lẽ Xuân Diệu đã nâng niu mùa thu một cách nhẹ nhàng và ân ái nhất.

Và mùa thu thực sự đến trong thơ ông khi tiếng reo vui được cất lên:

Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng

Một tiếng reo vui nhỏ nhẹ nhưng tràn đầy hào hứng, tràn đầy tin yêu. Tác giả dường như bị mùa thu đánh thức sau một giấc ngủ thật dài, thật lâu. NHưng ẩn sâu trong tiếng reo vui ấy thoảng qua một nỗi buồn nhân tình thế thái, bởi rằng mùa thu luôn gợi chữ buồn mênh mang. Đường nét của mùa thu thật nhẹ nhàng, tinh tế biết bao khi hình ảnh “áo mơ phai dệt lá vàng”. Có lẽ đó là nắng của mùa thu, thứ nắng dịu nhẹ, tinh khiết nhất.

Bức tranh của mùa thu bắt đầu hiện rõ nét hơn qua những cảm nhận của tác giả:

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh

Những luồng run rẩy rung rinh lá

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Một khu vườn mùa thu trọn vẹn, thần thái của mùa thu được lột tả một cách tinh tế và khéo léo nhất. Mùa thu là mùa rụng lá, mùa của sự chia ly không báo trước, sự sống mỏng manh đang sợ thời gian trôi đi, sợ ngày tàn đêm buộng, mọi vật cũng dần trôi vào mơ hồ. Thiên nhiên luôn khắc nghiệt như vậy, mọi thứ mang một dáng vẻ lo âu, sợ sệt. Những câu thơ với nhịp điệu vang lên dồn dập đến tái tê bởi làn gió xuân “run rẩy”.

Mùa thu dường như mỏng manh hơn, đau buồn hơn. Tác giả dùng tư “hơn một” để nói đến sự biến đổi không ngừng của thiên nhiên, của vạn vật. TÍnh ước lệ tượng trưng trong thơ Xuân Diệu dường như khiến con người ta cảm thấy xót xa hơn thì phải? HÌnh ảnh “sắc đỏ rủa màu xanh” là nét sáng tạo mới của tác giả, một sự chuyển đổi tinh tế, sâu sắc.

Đến những câu thơ cuối người đọc dường như cảm nhận cái buồn thêm tê tái hơn:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Môt sự chuyển đổi cảm giác thật tinh tế và khéo léo qua từ “nghe”. Sao tác giả có thể nghe được”rét mướt” nhỉ, hẳn là một sự nhạy bén và tinh tế trong sâu thẳm trái tim đang run rẩy của thi sĩ. Hình ảnh nàng trăng hiện lên huyền ảo, mơ hồ nhưng cũng chất chứa nỗi niềm sâu thẳm. Trăng “tự ngẩn ngơ” là một dụng ý nghệ thuật cực kỳ đắc điệu của tác giả, một ánh trăng đẹp, thướt tha nhưng lại gợi sầu, gợi buồn đến mênh mang.

Hình ảnh con người bắt đầu xuất hiện ở hai câu thơ kết mang nhiều suy ngẫm và liên tưởng của tác giả:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?

Tác giả đang hỏi người hay tự hỏi mình, hỏi nhân thế sao chữ buồn cứ nằng nặc bám theo dai dẳng đến vậy. Mùa thu nhẹ nhàng, tinh tế như người thiếu nữ. Con người khi thu đến thường chìm vào u uẩn, vẫn khao khát yêu đương đấy nhưng lại “buồn không nói”. Dường như nỗi lòng của những con người trong phong trào thơ mới đều có nỗi niềm chất chứa không biết ngỏ cùng ai như thế.

Mùa thu trong thơ xuân diệu thật đẹp nhưng cũng thật buồn, có chăng đây chính là sự khác biệt tạo nên một xuân diệu mà chúng ta thường biết đến. “Đây mùa thu tới” mang đến cho người đọc nhiều xúc cảm neo đậu mãi.

Đề bài:Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Bài làm

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930-1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữ yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơi để lại trong long người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã có thể khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Hai chữ “Tràng giang” có thể nói là một con sông dài, mênh mông và bát ngát. Từ Hán việt này khiến người ta liên tưởng đến những bài thơ Đường của Trung quốc. Nhưng chính tràng giang này cũng gợi lên được tâm tư của người trong cuộc khi muốn nhắc tới những thân phận nổi trôi, bé nhỏ sống lênh đênh trên con sông dài tâm tưởng và sông của nỗi u uất như thế.

Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” một lần nữa khái quát nên chủ đề của bài thơ chính là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la. Cả bài thơ toát lên được vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ điển, cũng là đặc trưng trong thơ của Huy Cận.

Bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên đã khiến người đọc liên tưởng đến một con sông chất chứa bao nỗi buồn sâu thẳm:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu tram ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi mái”, “sầu tram ngả”, lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như đã lột tả hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như thế này. Ngay khổ thơ đầu, nét chấm phá của cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại. Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hơn hết là hình ảnh “củi khô” trôi một mình, đơn lẻ trên dòng nước mênh mông, vô tận, vô đinh. Sức gợi tả của câu thơ thực sự đầy ám ảnh, môt con sông dài, một con sông mang nét đẹp u buồn, trầm tĩnh càng khiến người đọc thấy buồn và thê lương. Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu tram ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh long hiu hắt quá. Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang cùng sông nước dập dềnh. Điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối với hình ảnh “củi” gợi lên sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt khắp nơi. Có thể nói câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này. 

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bộ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cành buồn thiu, đìu hiu và vắng lặng của một làng quê thiếu sức sống. Đó có phải là quê hương của tác giả hay không. Hình ảnh “cồn nhỏ” nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tái lòng ở ven dòng sông dường như khoác lên mình một nỗi buồn mặc định. Ngay cả một tiếng ồn ào của phiên chợ chiều ở nơi xa cũng không thể nghe thấy, hay có chăng phiên chợ ấy cũng buồn đến hiu quạnh như thế này. Một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa, hỏi người hay là tác giả đang tự hỏi bản thân mình. Từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu. Khung cảnh hoang sơ, tiêu điều nơi bến nước không có một bóng người, không có một tiếng động thật chua xót. Hai câu thơ cuối tác giả mượn hình ảnh trời và sông để đặc tả sự mênh mông vô đinh.Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thực sự là nét tài tình, tinh tế và độc đáo của Huy Cận. Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết  nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai ấy.

Ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm thấy sự ấm áp nơi thiên nhiên hiu quạnh này nhưng dường như thiên nhiêu không như long người mong ngóng:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ 3 dường như người đọc nhận ra một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ thứ hai nữa. Từ “dạt” đã diễn  tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật này. Tuy nhiên từ ngữ này gắn liền với hình ảnh “bèo” lại khiến cho tác giả thất vọng vì “bèo” vốn vô đinh, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò. Tác giả chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể.

Mong ngóng gửi niềm thương nỗi nhớ về quê hương nhưng tác giả nhận lại là sự im lặng của vạn vật quanh đây qua từ láy “lặng lẽ” đến thê lương và đìu hiu.

Ở khổ thơ cuối dường như bút pháp của tác giả được đẩy lên cao nhất, nét vẽ chấm phá dung rất đắc điệu: 

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Có thể nói tư tưởng cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng them sầu, them buồn hơn. Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống.

Hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả chẳng biết gủi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của HUy Cận khiến chúng ta liên tưởng đến tứ thơ của Thôi HIệu:

Trên sông khói sóng cho buồn long ai

Là sóng của sông hay là sóng trong long người

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận. 

Đề bài : Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát với thi pháp văn học trung đại qua “Bài ca ngất ngưởng” và “Dương Phụ Hành”

Bài làm

Xuất hiện vào những năm cuối của thế kỉ XIX Dương phụ hành của Cao Bá Quát và Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ đã ghi được những dấu mốc trên tiến trình văn học trung đại Việt Nam, được coi như một sự vượt rào về thi pháp, một báo hiệu về thời cận đại.

Nói đến văn học trung đại là nói đến tính phi ngã và tính quy phạm. Từ trước đến nay chúng ta đều quan niệm tính quy phạm của dòng văn học trung đại là một bức thành kiên cố. Nó đã bó buộc, giam hãm nguồn cảm xúc của thi nhân, không để cho nguồn cảm xúc ấy tuôn trào một cách tự nhiên dù nó là một tình cảm nhân bản rất con người. Rất ít nhà thơ thời kì này nhận thức được đúng đắn những hạn chế đó. Dòng cảm xúc trong con người họ đã bị ức chế, bị dồn nén và bị uốn theo một lối mòn “muôn thuở”. Nhưng đã có những con người không đi theo vết xe của người đi trước, họ đã tìm đến những lối rẽ mới, thể hiện đầy đủ hơn tính người và rõ nét hơn bản ngã của cá nhân. Vì thế khi Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) và Dương phụ hành (Cao Bá Quát) ra đời đã mang đến cho ta những tư tưởng tình cảm mới, cách nhìn mới từ xưa đến nay chưa mấy ai khơi nguồn.

Ngược dòng thời gian trở về với lịch sử của dân tộc dưới chế độ phong kiến, chúng ta nhận thấy có một lớp sương mờ đang bao trùm lên khắp bầu trời và xã hội Việt Nam. Con người ấy, xã hội ấy cứ bình lặng trôi xuôi, không có một sự cựa quậy, phản kháng, khẳng định cá tính. Chế độ phong kiến không công nhận cá nhân, tỏa chiết những tình cảm tự nhiên của con người trong vòng kim cô của lễ giáo và tôn ti trật tự. Nhưng khi thưởng thức cái âm hưởng hùng mạnh trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, chúng ta thấy ông cha ta không phải ai cũng chịu cúi đầu. Trong bài thơ ta thấy nổi cộm lên cá tính của một tâm hồn tự do phóng khoáng, thích nói đến bản thân mình, kể cả những cái riêng nhất, cái mà dòng văn học trung đại không bao giờ đề cập đến. Mở đầu bài thơ Nguyễn Công Trứ đã khẳng định một cách hùng hồn vai trò của mình:

“Vũ trụ nói mạc phi phận sự”

Đâu còn tư tưởng vô vi của Lão – Trang. Lòng nhiệt tình, niềm say mê với công việc và trách nhiệm đã giúp ông ý thức được vai trò của mình trong cuộc đời, trong xã hội. Ở đây ta bắt gặp một hình ảnh của thiên nhiên: đó là vũ trụ – một hình ảnh quen thuộc và chiếm ưu thế trong thơ ca trung đại. Nhưng không gian vũ trụ trong câu thơ này lại không chiếm lĩnh tất cả. Tồn tại song song với nó còn là không gian xã hội – mà ở đây chính là vai trò cá nhân của tác giả. Nguyễn Công Trứ không trở về với không gian tình tại, với mây ngàn bạc nội, núi cao suối vắng, trầm tư sau lũy tre làng hoặc lặng lẽ bên luống cúc, thư trai mà với bản lĩnh và ý thức về trách nhiệm của mình, ông đã hòa mình vào cái náo nức hồ hởi, cái vòng đời đang lăn chuyển trong xã hội. Rõ ràng trong cái thế thừa đã bước đầu có sự cách tân, dọn đường cho một phong cách nghệ thuật mới sinh động nảy nở…

Sau khi thể hiện mình một cách tổng quát nhất, cái “tôi” đã bắt đầu khoa trương về cuộc đời, về những lần thi thố tài năng của mình với một giọng thơ say mê nhiệt huyết. Lời thơ dài ngắn khác nhau, ngắt nhịp theo lời kể và đặc biệt là với cách dùng từ “khí”, Nguyễn Công Trứ đã khắc họa một cách chính xác, đàng hoàng về tài năng của mình. Khi Nguyễn Công Trứ viết: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”, ta thấy nảy sinh ra một mâu thuẫn. Bản thân ông tự thấy mình cần phải có phận sự đối với trời đất, có trách nhiệm với cuộc đời. Vậy mà khi làm quan, khi mà ông có điều kiện để thể hiện rõ nhất phận sự của mình thì ông lại cảm thấy bị như bị vào “lồng”. Nguyễn Công Trứ đã gọi việc ra làm quan tựa như một cái “lồng”. Một hình ảnh thật mới mẻ, thật táo bạo. Thời ấy ai dám nói như Nguyễn Công Trứ bởi việc ra làm quan tuy có nhiều ràng buộc song nó vẫn là đối tượng của sự tôn kính, ngưỡng vọng của người đời… “Vào lồng” rồi ông vẫn tiếp tục chơi ngông.

“Gồm thao Xược đã nên tay ngất ngưởng”

Giọng văn hơi khoa trương mà không hề gây khó chịu bởi nhà thơ rất có ý thức về tài năng và phẩm hạnh của mình. Cá tính của nhà thơ còn xuyên suốt khắp bài thơ, nó như một đốm sáng làm cho giá trị của tác phẩm thêm rực rỡ lung linh. Nguyễn Công Trứ là một con người của tự do, một tâm hồn phóng khoáng và ưu hoạt động. Chính vì thế khi bị giam chân vào trong cái “lồng” của xã hội thì cũng là lúc ông có dịp để thể hiện cái “ngất ngưởng” của mình rõ hơn cả. Nhưng chế độ phong kiến hà khắc đã không dung nạp cái thói ngạo nghễ, khinh đời đầy ý thức cá nhân của ông. Song Nguyễn Công Trứ không hề cúi đầu khuất phục mà cái “ngất ngưởng” trong ông lại như có động lực thúc đẩy để phát triển lên tới đỉnh cao của cá tính. Khác hẳn với cái ta chung chung, mang tính chất tập đoàn, Nguyễn Công Trứ đã tự xưng danh, biến cái ta thành cái tôi, thành lẽ sống cho bản thân mình.

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”

Có lẽ khi ra làm quan, cá tính của Nguyễn Công Trứ phần nào vẫn bị chế độ phong kiến chi phối, lấn át nên bây giờ khi đã thôi làm quan thì cá tính kia mới bộc lộ một cách đầy đủ nhất, mãnh liệt nhất bởi không có gì ràng buộc. Việc cho bò đeo nhạc ngựa thời ấy đã là ghê gớm lắm rồi, vậy mà khi đến nơi cửa phật ông còn mang vài cô “Kiều” mà ông tả là “gót tiên đủng đỉnh”. Mức độ ngang tàng giờ đây đã phát triển lên đỉnh cao và nhà thơ của chúng ta đã quên đi hết thảy những ràng buộc cấm kị của thi pháp trung đại, cái thú vị hành lạc của nhà thơ bắt đầu thể hiện. Ông đã từng nói “cuộc hành lạc chơi đâu là lãi đấy”.

Nguyễn Công Trứ đã xé rào thi pháp văn học trung đại lúc nào cũng không biết. Tư tưởng của nhà thơ là một tư tưởng cách tân mang đậm dấu ấn thời đại bởi nó không chỉ là sự cách tân bằng văn hóa mà bằng cả cuộc đời ông đang sống. Sự thoát li với thế lực còn thể hiện ở câu thơ:

“Kia núi nọ phau phau mây trắng…”

Sức chiếm lĩnh của không gian lên cao của thi pháp trung đại không phải là nhạt nhòa trong phong cách thơ của nhà thơ. Lên cao để mà thoát tục, xa lánh bụi trần là một sở thích của thi nhân thời xưa. Nguyễn Công Trứ cũng muốn hòa mình vào thiên nhiên cao rộng để cho lòng thêm thanh thản sáng trong.

Có thế nói cá tính ngông của Nguyễn Công Trứ thể hiện đầy đủ nhất, toàn diện nhất khi ông viết câu thơ:

“Được mất dương dương người tái thượng”

Điển cố một lần nữa trở lại với thơ ông. Rõ ràng sức nặng của thi pháp trung đại vẫn chiếm lĩnh tư tưởng của nhà thơ. Nhưng ta vẫn thấy cái gì đó mới mẻ lớn lao đằng sau cái “dương dương” tự đắc của Nguyễn Công Trứ vậy.

Nguyễn Công Trứ tuy đã có sự ngấp nghé vượt rào thi pháp trung đại nhưng ông vẫn luôn ý thức được cái gì cần phải có và quay trở về với quỹ đạo của cương thường, có khi đến mức tôn thờ:

“Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Văn học trung đại đã có nhiều trang viết về đạo trung quân. Nguyễn Công Trứ  đã đi theo con đường đó để kế thừa và thể hiện cái đạo cao quý trong con người của mình. Rồi sau đó ông lại viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”. Nhà thơ xưng “ông” với thiên hạ, với cuộc đời, không ngại ngùng dè dặt mà vẫn hiên ngang. Rõ ràng cái “ngất ngưởng” ở đây đã trở thành một hình tượng tự thuật độc đáo, có ý vị hài hước. Nhưng đàng sau nụ cười đó lại là một thái độ, một quan niệm nhân sinh ít nhiều mang màu sắc hiện đại bởi nó đã đề cao vai trò cá nhân với sự khẳng định cá tính, không đi theo con đườngchính thống sáo mòn trong đó chỉ có hình ảnh tập đoàn cùng những giáo điều khô khan, còn quyền sống của con người bị che lấp vùi dập.

Nguyễn Công Trứ đã vượt lên trên cái đó với một phong cách nghệ thuật nỗi bật. Ông đã dùng hình tượng phi chính thống, nói nhiều đến cái tôi, bước đầu phá vỡ tính quy phạm của văn học trung đại. Nhìn chung Nguyễn Công Trứ đã vượt xa thời đại của ông rất nhiều.

Nếu chỉ có mình Nguyễn Công Trứ dám vượt rào thi pháp văn học trung đại thì sự cách tân kia cũng chưa phải là đáng kể. Cùng với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát một lần nữa đã làm cho “hàng rào” của thi pháp trung đại bị đẩy lùi, bị lung lay. Nếu như Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ đem lại cho ta một tâm trạng hồ hởi, náo nức thì Dương phj hành lại len vào trong hồn ta với một chất tình man mác, tràn đầy tính nhân văn, nhân bản. Bài thơ đã khắng định, đã đề cao những tình cảm riêng tư của con người. Đó là một nguồn cảm hứng rất đổi thân thuộc đối với thi nhân nếu như họa không bị thi pháp văn học trung đại phong tỏa. Đọc bài thơ ta như lạc vào một miền đất mới mà trên đó nảy sinh biết bao tâm tư tình cảm của con người, vẫn là một bài hành – một thể loại phổ biến của thi pháp trung đại cùng với không gian lữ thứ của một chủ thể trữ tình li hương song bài thơ lại được tác giả thổi vào một cái nhìn mới lạ, mang đậm tính nhân văn cao đẹp. Sự cách tân đã bước đầu thế hiện:

“Thiếu phụ Tây Dương áo trắng phau”

Người thiếu phụ phương Tây hiện ra với một cái nhìn trân trọng và trìu mến của tác giả. Lịch sử văn học đã mấy ai dám đưa hình ảnh người phụ nữ vào trong văn thơ táo bạo như Cao Bá Quát, mà lại là hình ảnh người đàn bà phương Tây đầy xa lạ. Ông nói thẳng vào điều mình nhìn thấy, không vòng vo, không còn những ước lệ đặc trưng dành cho người con gái như trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều. Cái đập vào mắt nhà thơ đầu tiên là trang phục màu trắng của người thiếu phụ. Cao Bá Quát đã mở hồn mình ra để cho cái màu trắng tinh khiết trang nhã kia in vào, xâm chiếm lấy con người tác giả. Người đàn bà kia không chỉ cuốn hút nhà thơ bằng trang phục khác xa với người con gái phương Đông mà những hành động cử chỉ của bà ta với chồng đã thực sự làm cho tâm hồn nhà thơ rung động, cảm hứng thơ trỗi dậy mãnh liệt:

“Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu…”

Sự hà khắc của những điều khó khăn trong chế độ phong kiến đã trói buộc tình cảm con người, đã không để nó phát sinh một cách tự nhiên. Tuy vậy hình ảnh đôi vợ chồng kia đối với nhà thơ không hoàn toàn lập dị. Một thoáng ngạc nhiên để rồi thay vào đó là một cái nhìn đầy thiện cảm, không tỏ ý bất động. Đâu còn thấy hình ảnh người phụ nữ Việt Nam e lệ, kín đáo bên người chồng và nguyện là người “nâng khăn sửa túi”, “cử án tu mi” suốt cuộc đời. Những cái đó giờ đây đã trở thành bảo thủ lạc hậu vì nó không đề cao sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, đặc biệt là quan hệ vợ chồng. Câu thơ này chứng tỏ Cao Bá Quát đã có một cái nhìn thật tinh tế và tiến bộ. Những điều mới lạ vẫn tiếp tục dâng trải trước mắt nhà thơ:

“Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay

Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy”

Lòng ta cũng cảm thấy lâng lâng, lan tỏa một niềm vui trước những cử chỉ tự nhiên gần gũi của đôi vợ chồng nọ. Và khi đó chúng ta nhìn về quê hương xứ sở của mình bấy giờ mới cảm thấy sao mảnh đất đó lại xa vời, khắc nghiệt quá vậy. Kể cũng đúng bởi những tình cảm rất con người kia không bao giờ nảy nở trực tiếp, nó đã bị những giáo điều khô khan của chế độ phong kiến chèn ép làm thui chột. Tư tưởng đó đã ảnh hưởng mãnh liệt đến các trang thơ. Tính quy phạm quả là hạn chế. Nhưng đến thời Cao Bá Quát thì một lần nữa nó lại bị phá tung ra và ít nhiều ảnh hưởng đến dòng văn học hiện đại sau này. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta có được một phong cách đầy mới mẻ và hấp dẫn mà bởi chính nhà thơ đã phần nào thấm ý thức được cách nhìn của mình, một sự cách tân độc đáo vượt xa thời trung đại. Người con gái phương Đông đang sống trên quê hương tác giả nhút nhát, e dè bao nhiêu thì “thiếu phụ Tây Dương” kia lại bạo dạn tự nhiên bấy nhiêu và điều quan trọng là giữa hai vợ chồng đó phải có một sự bình đẳng gần như tuyệt đối thì người vợ mới có thể nũng nịu đến như vậy. Khả năng cảm nhận của nhà thơ cũng thật nhạy cảm, tinh tế, chính vì vậy nên khi đứng trước những cử chỉ thân mật âu yếm của đôi vợ chồng nọ, nhà thơ của chúng ta không hề là gỗ đá mà tâm hồn đã bắt đầu xao động, từ sự ngạc nhiên đồng cảm đến nỗi niềm tủi thân của người xa quê hương, xa gia đình :

“Biết đâu đến khách biệt li này?”

Chủ thể trữ tình đã hiện ra. Biết bao cảm xúc đang dồn nén giờ đã bật tung ra từng câu chữ, dường như để trách móc mà lại như để tìm kiếm một tâm hồn đồng cảm để giải bày… Cảm nhận của văn học trung đại là cảm nhận trên cái toàn thể, cái ta trữ tình, những câu thơ về tình yêu, về tình vợ chồng thật hiếm. Cao Bá Quát đã vượt qua cản đó để đến với người đọc bằng một cái “tôi” trữ tình đầy tính nhân văn. Tuy Cao Bá Quát thể hiện nỗi nhớ người thân của mình (ở đây chính là người vợ tào khang nơi quê nhà) vẫn chưa dám bộc bạch thẳng mà thể hiện qua yếu tố khách quan, đi từ ngoại cảnh và để ngoại cảnh tác động đến lòng người. Song đọc bài thơ ta thấy thấp thoáng hiện lên một sự chuyển biến về cảm thức tiến bộ của tác giả. Bài thơ thể hiện một nỗi khát khao hạnh phúc của chính bản thân tác giả cũng như của tất cả mọi người. Đây là một chủ nghĩa nhân văn hết sức cao đẹp mà Cao Bá Quát đã đề cập tới.

Bài thơ kết thúc ở đây nhưng những dư âm của nó vẫn âm vang mãi trong lòng người. Nó như một “kì quan” đối với con người lúc bấy giờ, bởi nó đã mở ra một thế giới mới, một thế giới riêng tư, thế giới của tình yêu.

Hơn một thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát ra đi nhưng sự nghiệp văn thơ của hai ông vẫn còn, đặc biệt là Bài ca ngất ngưởng và Dương phụ hành đã vượt qua sức cản phá của thời gian. Bởi vì về mặt tư tưởng, nó có ý nghĩa nhân văn, về văn học, nó có ý nghĩa cách tân. Nó đã đem vào văn học một tiếng nói mới, tiếng nói của cá nhân, tiếng nói của cá tính. “Phong cách ấy là con người” (Buýtphông). Nguyễn Công Trứ với cá tính ngang tàng đã tạo nên một phong cách rất riêng trong nghệ thuật. Còn Cao Bá Quát với bút pháp đằm thắm chất nhân văn đã mang đến cho cuộc đời những tình cảm nhân bản cao đẹp, những tình cảm riêng tư thầm kín. Với những phong cách ấy, tính quy phạm của dòng văn học trung đại dần dần bị phá vỡ để thay vào đó là “cái tôi” đòi khẳng định. Nó như báo hiệu sự ra đời của một dòng văn học hoàn thiện hơn, gần người hơn, nền văn học mang trong mình một chủ nghĩa nhân văn mới” Nền văn học hiện đại Việt Nam.

 

 

Hỏi đáp

Hỏi đáp, trao đổi bài Gửi câu hỏi cho chủ đề này
Luyện trắc nghiệm Trao đổi bài

Tài trợ


Tính năng này đang được xây dựng...