Bài 8. Nhiễm sắc thể

NHIỄM SẮC THỂ

Trong tế bào sinh dưỡng (tế bào xôma), nhiễm sắc thể (NST) tồn tại thành từng cặp tương đồng (giống nhau vể hình thái, kích thước). Trong cặp NST tương đồng, một NST có nguồn gốc từ bố, một NST có nguồn gốc từ mẹ.

Do đó, các gen trên NST cũng tổn tại thành từng cặp tương ứng (hình 8.1). Bộ NST chứa các cặp NST tương đồng gọi là bộ NST lưỡng bội, được kí hiệu là 2n NST Bộ NST trung giao tử chỉ chứa một NST của mỗi cặp tương đồng được gọi là bộ NST đơn bội, kí hiệu là n NST.

                                   

Ngoài ra, ở những loài đồng tính, có sự khác nhau giữa cá thể đực và cá thể cái ở một cặp NST giới tính được kí hiệu tương đồng là XX và XY.

Tế bào của mồi loài sinh vật có một bộ NST đặc trưng về số lượng và hình dạng (bảng 8 và hình 8.2).

        Bảng 8. Số lượng NST của một sô loài

Hình 8.2 

Tùy theo mức độ duỗi và đóng xoắn mà chiều dài của NST khác nhau ở các kì của quá trình phân chia tế bào. Tại kì giữa, NST co ngắn cực đại và có chiều dài từ 0,5 đến 50 μm, đường kính từ 0,2 đến 2 μm (1 μm = 10-3 mm), đồng thời có hình dạng đặc trưng như hình hạt, hình que hoặc chữ V.

Cấu trúc hiển vi của NST thường được mô tả khi nó có dạng đặc trưng ờ kì giữa hình 8.4 và 8.5). Ở  kì này, NST gồm hai nhiễm sắc từ chị em (crômatit) gắn với nhau ờ tâm động (eo thứ nhất) chia nó thành hai cánh. Tâm động là điểm đính NST vào sợi tơ vô sắc trong thoi phân bào. Nhờ đó, khi sợi tơ co rút trong quá trình phân bào. NST di chuyển về các cực của tế bào. Một sổ NST còn có eo thứ hai  

Mỗi crômatit bao gồm chủ yếu một phân tử ADN (axit đêôxiribônuclêic) và prôtêin loại histôn.

Bằng thực nghiệm, các nhà khoa học đã xác định được NST là cấu trúc mang gen trên đó, mồi gen nằm ở một vị trí xác định. Những biến đổi về cấu trúc và số lượng NST sẽ gây ra biến đổi ờ các tỉnh trạng di truyền.

NST mang gen có bàn chất là ADN (thuộc một loại axit nuclêic) có vai trò quan trọng đối với sự di truyền. Chính nhờ sự tự sao của ADN đã đưa đến sự tự nhân đôi của NST, thông qua đó, các gen quy định các tính trạng được di truyền qua các thế hệ tế bào và cơ thể.

* HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

 1. Nêu vai trò của NST đổi với sự di truyền các tỉnh trạng.

Trả lời:

NST là cấu trúc mang gen và tự nhân đôi được, nhờ đó các tính trạng di truyền được sao chép lại qua các thế hệ cơ thể.

 2. Cấu trúc điển hình của NST được biểu hiện rõ nhất ở kì giữa của nguyên phân.

Trả lời:

Mô tả câu trúc điển hình của NST:

- Gồm một nhiễm sắc tử chị em (crômatit) gắn với nhau ở tâm động (eo thứ nhất) chia nó thành hai cánh.

- Tâm động là điểm dính NST vào sợi tơ vô sắc trong bộ thoi phân bào. Nhờ đó, khi sợi tơ co rút trong quá trình phân bào, NST di chuyển về các cực của tế bào. Một số nhiễm sắc thể còn có eo thứ hai.

- Mỗi crômatit bao gồm chủ yếu một phân tử ADN và protein loại histon

3. Nêu ví dụ về tính đặc trưng của bộ NST của mỗi loài sinh vật ?

Trả lời :

Tế bào của mỗi loài sinh vật có một bộ NST đặc trưng về số lượng và hình dạng

- Về số lượng : 

  + Ở người : 2 n = 46

  + Ở gà : 2n = 78

  + Ở tinh tinh : 2n = 48

  + Ở đậu Hà Lan : 2n = 14

  + Ở ngô : 2n = 20

- Về hình dạng : hình chữ V, hình hạt, hình que,...

4. Nhiễm sắc thể là gì ? Giải thích chức năng của nhiễm sắc thể ?

Trả lời :

* Nhiễm sắc thể là cấu trúc mang gen (có bản chất là ADN) nằm trong nhân của tế bào, dễ bắt mầu khi được nhuộm bằng dung dịch thuốc nhuộm mang tính kiềm

* Chức năng : NST có vai trò rất quan trọng trong sự di truyền, do có những chức năng sau đây :

- NST là cấu trúc mang gen. Gen nằm trên phân tử ADN của NST. Gen chứa thông tin quy định tính trạng di truyền của cơ thể. Những biến đổi về cấu trúc và số lượng NST sẽ gây ra biến đổi ở các tính trạng di truyền

- NST có khả năng tự nhân đôi để truyền thông ti di truyền qua các thế hệ . NST nhân đôi được nhờ phân tử ADN nằm trong nó nhân đôi.

Hỏi đáp

Hỏi đáp, trao đổi bài Gửi câu hỏi cho chủ đề này
Luyện trắc nghiệm Trao đổi bài

Tài trợ


Tính năng này đang được xây dựng...